Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến tỷ lệ mỡ giắt của lợn thịt năng suất cao

Thí nghiệm được tiến hành trên lợn thịt lai ba máu Duroc x (Landrace x Yorkshi), có tiểm năng cao về tỷ lệ mỡ giắt trong thân thịt

Lợn đưa vào thí nghiệm có độ tuổi khoảng 135 ngày tuổi, trọng lượng khoảng 75 kg, đồng đều về tính biệt ( gồm lợn đực thiến và cái), cùng nuôi trong một điều kiện chuồng trại như nhau, được bố trí thành 9 lô, Và chia theo 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: Từ 135 – 165 ngày tuổi.Giai đoạn 2: Từ 165 – 195 ngày tuổi. Thí nghiệm được thiết kế theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 3 mức năng lượng (2900; 3100; 3300 kcal/kg) và 3 mức lysine (1,5; 1,7; 1,9% cho giai đoạn 1; 1,3; 1,5; 1,7% cho giai đoạn 2).

Kết quả đạt được: Mức ME /lysine là 3100-1,5/1,3 cho 3 giai đoạn cho tỷ lệ mỡ giắt(IMF) cao nhất (3,32%), các chỉ tiêu về chất lượng thịt xẻ ( dày mỡ lưng (BF), diện tích thăn thịt ( MT), dày thăn thịt (DL) ) cũng đạt mức trung bình cao so với các mức dinh dưỡng khác, bên c ạnh đó, ở lợn sử dụng ME/lysine ở mức này cũng có hiệu quả tốt về mức sinh trưởng(ADG), tiêu tốn thức ăn (FCR) cũng như giá thành khẩu phần ăn đạt mức tương đối thấp so với khẩu phần dinh dưỡng có mức lysine cao hơn.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiều nghiên cứu cho thấy ch ế độ dinh dưỡng trong khẩu phần có ảnh hưởng đáng kể tới tỷ lệ mỡ giắt trong cơ. Người ta nhận thấy rằng, ngoài yếu tố cơ bản là di truyền, dinh dưỡng cũng có ảnh hưởng nhất định trong điều tiết tích tụ mỡ giắt, đặc biệt là sự thay đổi tỷ lệ protein/năng lượng. Từ những lo ngại rằng, hàm lượng mỡ giắt thấp trong thịt ở một số dòng lợn di truyền cao về hướng tăng tỷ lệ nạc và làm giảm độ mềm và hương vị thơm ngon của thịt lợn, vì vậy có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào các phương pháp trước mắt, dễ nhất để tăng hàm lượng mỡ giắt là thông qua dinh dưỡng.

Witte và cs. (2000) cho rằng, sử dụng khẩu phần thấp lysine ở giai đoạn cuối cho lợn sinh trưởng có tác dụng làm tăng mỡ giắt, lý do là khi khẩu phần thấp protein sẽ làm tăng tỷ lệ năng lượng/protein và thúc đẩy quá trình tạo và tích lũy mỡ trong tế bào cơ diễn ra mạnh hơn. Bên cạnh đó chế độ ăn hạn chế năng lượng/protein trong thời gian dài sẽ làm giảm khả năng tạo tạo các tế bào mỡ nằm trong cơ và như vậy sẽ làm giảm mỡ giắt (Gondret và cs., 2002).

Theo Cisneros và cs. (1996) thì cho lợn ăn chế độ thiếu protein trong khoảng 5 tuần trước khi giết mổ đã làm tăng thêm 2 phần trăm hàm lượng mỡ giắt trong thịt. Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định, sự thiếu hụt lysine làm tăng hàm lượng chất béo trong cơ bắp và chế đ ộ nuôi dưỡng giảm tỷ lệ protein/năng lượng làm tăng hàm lượng mỡ giắt trong cơ ngực của lợn (Essen Gustavsson và cs.1994; Cisneros và cs.1996).

Ngoài ra, thời gian sử dụng các khẩu phần thấp protein cũng ảnh hưởng đáng kể tới hàm lượng mỡ giắt trong thịt. Theo Ellis và cs. (1999) khi sử dụng các khẩu phần thiếu protein/lysine từ 1-3 tuần trước khi giết thịt không ảnh hưởng đáng kể tới mỡ giắt so với khẩu phần cao protein/lysine (tương ứng 2,98 và 2,93 điểm; 3,08 và 3,05 điểm vân mỡ). Tuy nhiên, nếu thời gian sử dụng là 5 tuần thì có sai khác rõ rệt (tương ứng 3,34 và 2,82 điểm vân mỡ).

Một nghiên cứu của Nuria Tous và cs. (2013), thí nghiệm trên lợn thịt lai thương phẩm D(LY) từ 67kg – 97 kg – 124 kg cho thấy cho thấy tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt tăng ở lợn nuôi bằng khẩu phần thấp protein cân bằng lysine hoặc khẩu phần cân bằng protein thấp lysine (P <0,05) so với khẩu phần cân bằng vừa protein vừa cân bằng lysine. Ngược lại, khi nuôi bằng khẩu phần thấp protein và thấp lysine thì tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt có xu hướng giảm. Đồng thời, dày mỡ lưng tăng lên khi nuôi bằng khẩu phần thấp protein.

Gần đây, Maddock.R (2013) đã tiến hành nghiên cứu tăng tỷ lệ mỡ giắt trên heo thịt dòng nạc bằng khẩu phần ăn thấp Lysine. Thí nghiệm này cho thấy rằng sử dụng khẩu phần ăn giảm protein thô làm tăng tỷ lệ mỡ giắt ở lợn lai dòng nạc từ 1,3% lên 2,4%, nhưng không đáng kể đối với lợn dòng mỡ (vì đã khá cao) do có mức Lysine trong khẩu phần thấp.

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về tăng tỷ lệ mở giắt trong thịt chưa nhiều, tuy nhiên, theo Vũ Duy Giảng và cs.(2013) nhận định, việc cải thiện độ ngon của thịt ở các giống lợn siêu nạc bằng cách tăng hàm lượng mỡ giắt thông qua các biện pháp giống và dinh dưỡng – thức ăn.

Như vậy, với những thông tin đã đề cập trên, ở điều kiện V iệt Nam chúng ta có thể áp dụng giải pháp dinh dưỡng để nâng cao tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện thí nghiệm: “ Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến tỷ lệ mỡ giắt ở lợn thịt năng suất cao”

Mục tiêu: Xác định hàm lượng dinh dưỡng (lysine/năng lượng) thích hợp cho tỷ lệ mỡ giắt cao trong chăn nuôi lợn thịt cao sản.

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nguyên vật liệu sử dụng cho thí nghiệm

Thí nghiệm được tiến hành trên lợn thịt lai ba máu Duroc x (Landrace x Yorkshi), đây là công thức lai đã được chọn của thí nghiệm 2 thuộc đề tài:” Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật về giống và nuôi dưỡng để nâng cao tỷ lệ mỡ giắt trong thịt lợn” cho kết quả cao về tỷ lệ mỡ giắt.

Lợn đưa vào thí nghiệm có độ tuổi khoảng 135 ngày tuổi, trọng lư ợng khoảng 75 kg, đồng đều về tính biệt ( gồm lợn đực thiến và cái), cùng nuôi trong một điều kiện chuồng trại như nhau, chia theo 2 giai đoạn: giai đoạn 1: Từ 135 – 165 ngày tuổi. Giai đoạn 2: Từ 165 – 195 ngày tuổi. Thí nghiệm được thiết kế theo khối hoà n toàn ngẫu nhiên gồm 3 mức năng lượng (ME/kg): 2900 kcal; 3100 kcal và 3300 kcal và hàm lượng lysine trong khẩu phần ăn cũng có 3 mức: 1,5; 1,7 và 1,9% cho giai đoạn 1 và 1,3; 1,5 và 1,7% cho giai đoạn 2. Tổng cộng có 9 lô thí nghiệm, mỗi lô gồm 10 con và 5 lần lặp. Theo sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:

Các chỉ tiêu về đo độ dày mỡ lưng – BF (mm), tỷ lệ mỡ giắt – IMF (%), dày thăn thịt – DL (mm), và diện tích thăn thịt MT(cm2 ) được đo bằng máy siêu âm Aloka tại thời điểm đưa vào thí nghiệm (135 ngày tuổi), giữa kỳ (165 ngày tuổi) và cuối kỳ (195 ngày tuổi)

Tỷ lệ nạc ước tính theo phương pháp Illias Kyriazakis(Whittemore)

Lean meat% = 59 – 0,9P2(mm)+ 0,2 ribeye depth P2(mm)

(P2: độ dày mỡ lưng đo ở vị trí xương sườn 10) Các chỉ tiêu theo dõi Chất lượng thịt xẻ (tỷ lệ mỡ giắt, (IMF),dày thăn thịt,(DL) và diện tích thăn thịt MT), dày mỡ lưng (BF)), khả năng tăng trọng (ADG), và tiêu tốn thức ăn(FCR) của lợn thí nghiệm tại các thời điểm 165 và 195 ngày tuổi. Phương pháp xử lý số liệu Số liệu thí nghiệm được xử lý theo phương pháp ANOVA trong phần mềm SAS vesion 9.0

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: từ tháng 2/2014 – 8/2014

Địa điểm: Trại thực nghiệm -Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát Triển chăn nuôi heo Bình Thắng

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Ảnh hưởng của từng yếu tố thí nghiệm trong khẩu phần (lysine/năng lượng) đến các chỉ tiêu thịt xẻ, tăng trọng và tiêu tốn thức ăn của lợn thí nghiệm

Đánh giá ảnh hưởng của từng yếu tố năng lượng, lysine lên tỷ lệ mỡ giắt (IMF) và dày mỡ lưng (BF) của lợn thí nghiệm, kết quả thu được cho thấy khi ME tăng đã làm cho cả IMF và BF tăng lên rõ rệt tại thời điểm kết thúc của cả 2 giai đoạn (P<0,01). Không có sự sai khác giữa mức 3100 và 3300kcal (P>0,05).

Tăng lượng lysine trong khẩu phần có xu hướng làm giảm IMF, tuy nhiên sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Đối với mức BF thì tăng lượng lysine trong khẩu phần có xu hướng làm giảm BF của lợn thí nghiệm, tuy nhiên sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).

Kết quả trên phù hợp với Gondret và cs. (2002) cho thấy, chế độ ăn hạn chế vừa năng lượng, vừa protein trong thời gian dài sẽ làm giảm khả năng tạo các tế bào mỡ nằm trong cơ và như vậy sẽ làm giảm mỡ giắt. Tuy nhiên, nếu ở mức hạn chế 20% protein và 7% năng lượng trong khẩu phần giai đọan cuối của lợn sinh trưởng sẽ làm tăng đáng kể khả n ăng tạo mỡ giắt (Da Costa và cs. 2004). Trong khi đó D’Souza (2003) cũng cho rằng chế độ nuôi dưỡng giảm 15% hoặc 30% tỷ lệ protein/năng lượng trong giai đoạn tăng trưởng cải thiện hàm lượng mỡ giắt từ 1,3% đến 2%, và gần đến ngưỡng (2,5%).

Kết quả trên cho thấy khi tăng năng lượng trong khẩu phần ăn làm tăng rõ rệt diện tích thăn thịt (MT) và dày thăn thịt (DL) tại thời điểm kết thúc của cả 2 giai đoạn của lợn thí nghiệm(P<0,01). Cụ thể, khi kết thúc giai đoạn lúc 165 ngày tuổi, MT và DL cao nhất ở mức năng lượng 3100 và 3300 kcal (35,84; 36,56cm 2 cho MT và 54,43; 54,86 mm cho DL) và thấp nhất ở mức năng lượng 2900 kcal ( 34,65 cm2 và 53,52 mm). Khi kết thúc giai đoạn 2 lúc 195 ngày, tương tự MT và DL cao nhất ở mức năng lượng 3100 và 3300 kcal (41,67; 41,44cm2 cho MT và 59,95; 59,63 mm cho DL) và thấp nhất ở mức năng lượng 2900 kcal ( 39,36 cm2 và 58,28 mm). Không có sự sai khác về MT và DL giữa 2 mức năng lượng 3100 và 3300 kcal (P>0,05).

Đối với tác động của lysine trong khẩu phần, ở thời điểm kết thúc giai đoạn 1, cả 2 chỉ tiêu MT và DL có xu hướng tăng khi lysine tăng trong khẩu phần, tuy nhiên không có sự sai khác rõ rệt (P>0,05). Khi kết thúc giai đoạn 2, lúc 195 ngày, MT thấp nhất và sai khác rõ rệt ở mức lysine 1,5/1,3 (40,16 cm2 ) so với mức lysine cao 1,9/1,7 (41,27 cm2 ) (P<0,05), tuy nhiên MT ở mức lysine 1,7/1,5 (41,03 cm2 ) lại không sai khác có ý nghĩa khi so sánh với mức lysine 1,9/1,7 và 1,5/1,3 (P>0,05). Cũng ở thời điểm kết thúc giai đoạn 2, chỉ tiêu dày thăn thịt (DL) có xu hướng tăng khi tăng tỷ lệ lysine trong khẩu phần tăng, tuy nhiên sai khác không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).

Ngoài các chỉ tiêu về tỷ lệ thịt xẻ, thì các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển của lợn cũng cần được quan tâm, bởi trong quá trình chăn nuôi lợn thịt thương p hẩm, ngoài việc tính đến chất lượng thịt xẻ, độ mềm ngon của thịt thì người chăn nuôi còn quan tâm đến khả năng tăng trọng/ngày(ADG) cũng như số kg thức ăn tiêu tốn/kg tăng trọng (FCR) của đàn lợn thịt.

Kết quả thí nghiệm cho thấy, năng lượng ảnh hưởng tới cả ADG và FCR của lợn thí nghiệm. Đối với ADG, trong giai đoạn 1, ADG cao nhất ở lợn sử dụng khẩu phần dinh dưỡng có mức năng lượng cao 3300 kcal (911g), tiếp đến là lợn sử dụng khẩu phần dinh dưỡng 3100 kcal (873g) và thấp nhất ở lợn sử dụng mức năng lượ ng 2900 kcal (842 g), sang giai đoạn 2, ADG cao nhất ở các lô lợn được sử dụng mức năng lượng 3100 và 3300 kcal (807 và 817g), thấp nhất ở lợn sử dụng mức năng lượng 2900kcal (782g) (P<0,05). Điều này chứng tỏ với mức năng lượng cao trong chế độ ăn đã ảnh hưởng đến khả năng tăng trọng của lợn thí nghiệm.

Đối với mức tiêu tốn thức ăn (FCR) của lợn thí nghiệm, kết quả cho thấy ở giai đoạn 1, FCR thấp nhất ở khẩu phần có năng lượng là 3100kcal (2,77kg), 2 mức năng lượng còn lại 2900 và 3300 thì lại có FCR cao nhất (2,87 và 2,89 kg) (P<0,05), tuy nhiên, sang giai đoạn 2, thì FCR thấp ở 2 lô heo sử dụng 3100 và 3300kcal (3,05 kg) và cao hơn ở lô lợn sử dụng mức dinh dưỡng thấp-2900kcal (3,13kg), tuy nhiên sự sai khác này chưa có ý nghĩa thống kê (P<0,05).

Khi đánh giá ảnh hưởng của lysine đến ADG và FCR của lợn thí nghiệm khi sử dụng khẩu phần dinh dưỡng có tỷ lệ lysine khác nhau, kết quả cho thấy, ADG ở giai đoạn 1 cao nhất ở những khẩu phần có tỷ lệ lysine cao 1,9% (884g) và thấp nhất ở mức 1,5%(863g), sai khác này có ý nghĩa thống kê(P<0,05), tương tự, ở giai đoạn 2 ADG cũng có xu hướng tăng ở những khẩu phần dinh dưỡng có tỷ lệ lysine cao, tuy nhiên sự sai khác này chưa mang ý nghĩa thống kê (P<0,05). Tương tự, FCR của lợn thí nghiệm tỷ lệ nghịch với tỷ lệ lysi ne trong khẩu phần ăn của lợn thí nghiệm, tuy nhiên, sự sai khác này chưa có ý nghĩa thống kê (P>0,05).

Ảnh hưởng của 2 yếu tố thí nghiệm (năng lượng/lysine) đến các chỉ tiêu thí nghiệm

Khi đánh giá ảnh hưởng đồng thời của hai yếu tố lysine/năng lượng trong khẩu phần lên các chỉ tiêu theo dõi ở thởi điểm 135 ngày tuổi. Kết quả thí nghiệm cho thấy năng lượng có ảnh hưởng rõ rệt tới tất cả các chỉ tiêu (P<0,01), trong khi đó: tỷ lệ lysine c hỉ ảnh hưởng rõ rệt tới chỉ tiêu tăng trọng (P<0,05) còn khi kết hợp cả năng lượng và lysine thì không có ảnh hưởng rõ rệt đến các chỉ tiêu theo dõi.

Sang giai đoạn 2, kết quả thí nghiệm cho thấy ME cũng có ảnh hưởng rõ rệt lên các chỉ tiêu theo dõi (P<0,01). Tuy nhiên, ME lại không ảnh hưởng tới chỉ tiêu FCR của thí nghiệm (P>0,05), trong khi đó lysine không có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu theo dõi ngoại trừ chỉ tiêu diện tích thăn thịt (MT) (P<0,05). Trong giai đoạn này, tỷ lệ lysine và mức năng đồng thời ảnh hưởng rõ rệt nhất đến chỉ tiêu dày mỡ lưng (BF) (P<0,05)

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu về ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng và thời gian cho ăn đến tỷ lệ mỡ giắt của Cisneros và cs. (1996). Ngoài ra, kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu khác như của Owen, (1994), khi làm thí nghiệm nhằm tối ưu hóa tỷ lệ Lysine/Năng lượng trên heo thịt giai đoạn từ 78 kg – 109 kg với 3 mức năng lượng là 3,21- 3,15 và 3,14 ME (Mcal/kg) và các mức lysine cao: 1,15-1,00 và 0,90%; và các mức lysine thấp: 0.95-0,80-0,70% tương ứng, cho thấy mức lysine cao nhất, ngoài việc tốn kém, dường như làm giảm hiệu quả thức ăn. Đồng thời, so với các nghiệm thức 0,95-0,80-0,70% lysine, các mức lysine cao 1,15-1,00 và 0,90% làm giảm 4, 3, và 5% hệ số chuyển hóa thức ăn trên lợn cái và đực thiến, tương ứng. Qua thí nghiệm, cũng cho thấy khẩu phần lysine thấp nhất không chỉ tăng hàm lượng mỡ giắt trong thăn thịt mà còn kéo theo tăng tỷ lệ mỡ dướ i da với 3,48-3,40 và 3,52% (mỡ giắt) và 3,01-2,94 và 3,30% (tỷ lệ mỡ), tương ứng. Kết qủa trên cũng phù hợp với hàng loạt các nghiên cứu tương tự (Goerl và cs. (1995); Kerr B.J và cs. (1995); Blanchard PJ và cs. (1999)), theo đó những khẩu phần thấp protein/lysine có tác dụng cải thiện đáng kể tỷ lệ mỡ giắt so với những khẩu phần cao protein/lysine. Thí nghiệm của Eggert M.J và cs. (1997) dùng khẩu phần 3330 Kcal ME /2,57 g và 1,69 g Lysine để nghiên cứu ảnh hưởng của Lysine lên tăng trưởng và chỉ tiêu thị t xẻ của lợn thương phẩm Duroc x (landrace x Yorkshire) cho thấy khẩu phần cao lysine có tỷ lệ mỡ giắt thấp hơn 1,41% so với 1,51% khẩu phần thấp lysine.

Lê Phạm Đại, Trần Vân Khánh, Phạm Sỹ Tiệp và Phạm Tất Thắng

Phân viện Chăn nuôi Nam bộ, Viện Chăn nuôi

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ