Cách cải thiện chất lượng nước uống gia cầm bằng sự axit hóa

Nếu không có đủ nước, gà không thể đạt được năng suất tiềm năng của chúng. Tuy nhiên, đảm bảo một nguồn cung nước đầy đủ thì chưa đủ. Việc quản lý nước sạch và kỹ lưỡng là cần thiết trên cơ sở hàng ngày để ngăn chặn bất kỳ vấn đề sức khỏe nào có thể gây ra do vệ sinh nước kém. Bổ sung một chất axit hóa vào nước có thể giúp duy trì chất lượng nước và thúc đẩy năng suất gia cầm.

Nước thường được gọi là “chất dinh dưỡng bị lãng quên” và không phải không có lý do. Trong nhiều trường hợp, người ta cho rằng nước sẽ có sẵn cho gà uống, và rằng nó cần ít hoặc không duy trì để giữ một nguồn cung đầy đủ. Thường thì, ít khi nghĩ nước có thích hợp để cho gia cầm uống không.

Một con gà sẽ uống bất cứ nơi nào từ 1,8 đến 3 lần số lượng thức ăn nó ăn vào, phụ thuộc vào trạng thái căng thẳng, điều kiện chỗ ở và nhiệt độ. Do đó, một lượng nước không đầy đủ sẽ trực tiếp giảm lượng ăn vào, ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất. Việc rút bỏ nước khỏi bầy gà đang đẻ sẽ làm dừng sản xuất trứng rất nhanh chóng, và khi kết hợp cùng với việc rút bỏ thức ăn, thì sẽ gây ra rụng lông.

Chủng ngừa thông qua nước
Nước cũng là môi trường chọn lọc để áp dụng vắc xin sống cho gà. Phương pháp này được áp dụng bất cứ khi nào có thể vì nó có một yếu tố rõ rệt giảm stress cho gà, cũng như chi phí sử dụng thấp hơn. Chủng ngừa luôn được thực hiện tốt nhất vào buổi sáng khi gà đã có một thời gian tự nhiên thiếu nước qua đêm, và sẽ ít bị stress so với gây ra khát qua một sự thiếu vật lý sau đó trong ngày. Sáng sớm cũng là thời gian tự nhiên cho gà ăn sau đêm, vì vậy chúng sẽ ăn và uống dễ dàng hơn vào thời gian này.
Chất lượng nước
Nước là một trong nhiều véc-tơ có thể vận chuyển các mầm bệnh như vi khuẩn, virus hoặc động vật nguyên sinh vào trại nuôi gia cầm. Một số bệnh, chẳng hạn như sổ mũi truyền nhiễm và Haemophilus paragallinarum cũng có thể lây lan qua hệ thống máng uống, đặc biệt nếu là hệ thống không có núm.
Vì vậy, vệ sinh nước uống cần phải được xem là một phần không thể thiếu của bất kỳ chương trình an toàn sinh học nào. Một phần của điều này sẽ bao gồm kiểm tra chất lượng nước thường xuyên, bao gồm đo cả hai muối hòa tan và, quan trọng hơn, là sự nhiễm khuẩn. Để được xem là có thể chấp nhận, nước nên chứa ít hơn 100 CFU/ml coliforms và ít hơn 100.000 CFU/ml tổng các vi khuẩn (Bảng 1). Nước uống không được nhiễm salmonella. Trường hợp nước chưa tuân thủ tiêu chuẩn này, thì cần thực hiện các bước càng nhanh càng tốt để khắc phục các mặt chưa làm được.

Năm gợi ý đảm bảo chất lượng nước tốt

Gợi ý 1
Áp dụng khử trùng nước

Để duy trì chất lượng nước, người ta khuyến khích sử dụng một số hình thức khử trùng nước. Phương pháp phổ biến nhất là sử dụng clo, định liều vào bể chứa hoặc trực tiếp vào nước đi vào trại thông qua máy định liều. Tháp nước thường được clo hóa ở mức 3 ppm tại điểm nước đi vào trại. Tuy nhiên, do thời gian nước đạt đến máng uống cuối cùng ở trại có thể bị giảm đáng kể tùy thuộc vào độ sạch và chất hữu cơ có trong các đường ống. Có thể nên theo cách tăng mức clo hóa ở trại để bù đắp sự mất mát có thể này.

Gợi ý 2
Kiểm tra chất lượng nước thường xuyên

Nên kiểm tra nước thường xuyên để đảm bảo rằng chất lượng nước là ổn định và, thiết bị phân liều thuốc đang hoạt động chính xác. Để làm điều này, nên thu thập nước từ điểm xa nhất đi vào trại, đi vào máng uống cuối. Mức độ vệ sinh nước hoặc thiếu nước, khác nhau đáng kể trên thế giới, từ hệ thống tinh vi ở một số nước đã phát triển đến không vệ sinh chút nào ở một số nước kém phát triển.

Gợi ý 3
Kiểm tra màng sinh học

Nhiều nơi trên thế giới, độ cứng, chất rắn hòa tan trong nước, là khá cao, làm tăng độ pH đến mức đầu trên của mức chấp nhận được. Các muối này, đặc biệt là muối canxi hay muối magiê, có thể hình thành các lớp tích tụ trong ống nước mà cuối cùng có thể làm giảm lưu lượng nước. Thêm vào đó, chúng cũng có thể kích thích hình thành lớp màng sinh học trong các đường ống bằng cách cung cấp chỗ bám cho vi khuẩn cư trú. Màng sinh học là một thuộc địa sống của các vi sinh vật bao gồm vi khuẩn, tảo, nấm mốc và thậm chí cả nguyên sinh động vật. Thuộc địa sống này được bảo vệ bằng sự tích tụ của các protein sợi được tiết ra bởi một số các vi khuẩn, mà theo thời gian có thể tiếp tục làm giảm dòng chảy của nước qua đường ống. Các loại mầm bệnh khác nhau được tìm thấy ở màng sinh học là khá rộng như được biểu thị ở Bảng 2.

Gợi ý 4
Tẩy sạch triệt để hệ thống nước giữa các đàn gà

Làm sạch triệt để hệ thống nước giữa các đàn được khuyến cáo mạnh mẽ, sử dụng các sản phẩm có khả năng loại bỏ cả màng sinh học và cả cặn vôi hiện diện. Việc này thường đòi hỏi có một sự tiếp cận bao gồm hai chiến lược bằng một sản phẩm như hydrogen peroxide để loại bỏ màng sinh học, và một sản phẩm axit để loại bỏ cặn vôi ở các khu vực nước cứng.
Có thể làm giảm sự hình thành màng sinh học trong quá trình chăn nuôi bằng cách thường xuyên xả đường ống dưới áp lực nước từ 1,5 – 3,0 bar (20 – 40 PSI). Nên xả đường ống nước ít nhất một lần mỗi tuần, và thường xuyên hơn khi khí hậu nóng để đảm bảo có kết quả tốt. Việc này sẽ làm giảm nguy cơ các mảng màng sinh học lỏng lẻo trong các đường ống và gây ra tắc nghẽn các van của máng nước uống, hoặc phát tán mầm bệnh không mong muốn vào nguồn cung nước. Bất kỳ các dư lượng còn lại của việc xử lý nước cần được loại bỏ ngay sau khi xử lý bằng cách xả hệ thống. Nước cứng làm tăng độ pH của nước. Hiện nay, có một số tranh luận về sự khuyến cáo của độ axit/kiềm của nước, với quan điểm hiện tại hướng tới việc giảm độ pH đến những mức thấp hơn, từ pH 4 đến pH 5. Điều này là để tạo ra một môi trường tĩnh của mầm bệnh, nhờ đó hạn chế được sự phát triển của chúng trong các đường ống nước.

Gợi ý 5
Mục tiêu cho mức pH tối ưu

Khi gà con nở, chúng có một ruột non còn non nớt, và việc sản xuất các axit ở dạ dày tuyến và mề bị giảm trong 7-14 ngày đầu. Thử nghiệm cho thấy rằng mức pH của dạ dày tuyến dao động từ 5,2 ở ngày đầu đến 3,5 ở ngày 15, với sự giảm tuyến tính từ lúc nở và 10 ngày tuổi. Tương tự như vậy, độ pH ở mề giảm từ 3,5 xuống 3,3 từ ngày 1 và ngày 10, sau đó ổn định ở pH 3,3 vào ngày 15 (Rynsburger, 2009).
Cần chăm sóc khi axit hóa nước để đảm bảo áp dụng lượng axit chính xác đạt đến pH 4,5 mong muốn của nước uống. Không thực hiện được điều này có thể dẫn đến, hoặc là axit hóa nước quá độ, có thể gây trở ngại lượng nước tiêu thụ và làm hỏng thiết bị, hoặc là axit hóa dưới mức, mà sau đó có thể cung ứng nguồn năng lượng cho vi khuẩn cư trú trong đường ống nước.

Bốn lợi ích của việc axit hóa nước

Nhiều công ty đang sử dụng clo hóa như một cách để vệ sinh nước, bằng cách tiếp cận với nguồn nước của thị xã, hoặc bổ sung clo vào nước ở trại. Tuy nhiên, hiệu quả của sự clo hóa phụ thuộc vào sự hình thành của hypochlorous axit, có hoạt động kháng khuẩn mạnh hơn hypocloride ion. Mức hypoclorous axit được sản xuất sẽ phụ thuộc vào pH của nước đến (Hình 1).

Lợi ích 1
Sự axit hóa ngăn chặn vi khuẩn tái tạo

Hầu hết các vi khuẩn gây bệnh là Gram âm và như vậy là nhạy cảm với môi trường có tính axit, có tác dụng kìm khuẩn. Khi một gà uống hai lần số lượng mà nó ăn vào, thì các axit trong nước uống có thể có một tác dụng lợi ở diều, làm giảm sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh.
Hình 2 cho thấy rằng pH dưới 5, nhiều vi khuẩn gây bệnh là ổn định và không tăng. Tuy nhiên, vi khuẩn gây bệnh sẽ bắt đầu nhanh chóng nhân lên một khi pH đi trên pH 5, đạt đỉnh ở pH 7 – 8. Trong khi vi khuẩn Gram âm là nhạy cảm với các axit, chúng cũng có một sự bảo vệ hình thành chống lại các tác nhân tan trong nước ở màng ngoài lipopolysaccharide của thành tế bào. Điều này giới hạn việc đi qua của các tác nhân kháng khuẩn vào thành tế bào, do đó tạo cho chúng một mức độ bảo vệ.
Tuy nhiên, bổ sung một tác nhân thẩm thấu vào chất axit hóa, ví dụ Biotronic® Top Liquid, có thể làm tăng hoạt động kháng khuẩn trực tiếp trong nước uống và phần trên đường tiêu hóa. Điều này là do sự gián đoạn của lớp lipopolysaccharide bên ngoài bởi phức thẩm thấu, cho phép một sự hấp thụ lớn hơn các axit vào tế bào, tăng cường tác dụng kháng khuẩn.

Lợi ích 2
Sự axit hóa không ảnh hưởng đến các probiotics trong thức ăn (vi khuẩn cho ăn trực tiếp)
Nhiều loại probiotics nhanh chóng đạt được lượng phổ biến trong chăn nuôi gia cầm là Gram-dương. Chúng thuộc hoặc là lactobacilliales – vi khuẩn sản xuất axit lactic, hoặc là vi khuẩn bacillus có bào tử mà ít nhiều có nhạy cảm với môi trường axit. Kết quả là, nước uống axit hóa không có ảnh hưởng đến các sản phẩm probiotics trong thức ăn.
Nếu các probiotics được sử dụng trong nước uống qua một máy định lượng, và chỉ có một máy định lượng, thì nên ngừng axit hóa nước trong thời gian sử dụng probiotics, và sau đó mới dùng nước axit hóa một khi đã tiêu thụ hết nước probiotics. Một cách tương tự khác nên được áp dụng khi chủng ngừa thông qua nguồn nước. Nếu vắc xin được áp dụng trực tiếp vào bồn có vòi phun, thì sẽ không ảnh hưởng bất lợi lên probiotics, nhưng không nên axit hóa nước khi chủng ngừa.

Lợi ích 3
Sự axit hóa giúp giữ không cho hình thành vết nước cứng và màng sinh học
Axit hóa nước uống cũng có thể làm giảm sự tạo thành vết nước cứng trong các đường ống nước uống, từ đó cũng sẽ làm giảm mức độ của màng sinh học do mức nhiễm khuẩn thấp hơn. Điều này không phủ nhận việc làm sạch các đường ống nước uống giữa các đàn gà là cần thiết, mà nó còn có thể giúp ngăn chặn sự tắc nghẽn hoặc rò rỉ máng uống gây ra khi màng sinh học bể lỏng lẻo trong các đường ống dẫn, ảnh hưởng đến chức năng máng uống.

Lợi ích 4
Sự axit hóa có thể giúp tiêu hóa protein sớm
Độ chua cũng là một yếu tố chính trong sự biến đổi của pepsinogen thành pepsin, đó là điều cần thiết cho việc tiêu hóa protein. Sự tiêu hóa lysine ở gà thịt một ngày tuổi là 78%, nhưng tăng lên trên 89% vào 14 ngày tuổi (Batal và Parsons, 2002). Do đó, axit hóa của nước có thể có lợi cho sự tiêu hoá protein sớm bằng cách giảm nhẹ độ đệm của thức ăn đi qua từ diều đến dạ dày tuyến.
Khẩu phần gà con giai đoạn starter là một trong những khẩu phần có độ đệm nhất, ngoại trừ gà đẻ và gà giống sản xuất, do hàm lượng canxi và protein. Điều này có thể giải thích sự thành công trong việc axit hóa nước uống trong giai đoạn đầu sản xuất.

Kết luận
Nước là một phần thiết yếu cho năng suất đàn tối ưu. Tuy nhiên, vì nước có thể vận chuyển mầm bệnh vào chuồng gia cầm, nên chất lượng và sự quản lý nó là vô cùng quan trọng. Khử trùng, kiểm tra thường xuyên, kiểm tra màng sinh học trong đường ống và dây chuyền tẩy rửa triệt để giữa các bầy có thể giúp đảm bảo chất lượng nước càng cao càng tốt. Bổ sung một sản phẩm axit hóa nâng cao sẽ mang lại lợi ích về năng suất tăng cường cũng như giảm được mức độ vi khuẩn trong nước.

Andrew Robertson, Giám Đốc Bán Hàng Kỹ Thuật Gia Cầm

Science & Solutions No.63

BIOMIN

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ