Kết quả sử dụng 2 dòng đực Duroc và tuổi giết thịt đến tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt lợn lai thương phẩm

Nghiên cứu cải thiện tỷ lệ mỡ giắt dựa trên 312 lợn lai từ 2 dòng Duroc khác nhau: dòng Duroc thường (D1) và dòng chọn theo hướng mỡ giắt (D2) với Landrace, Yorkshire và nái F1 (Landrace  Yorkshire) tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuô i Bình thắng và các trại chăn nuôi tại tỉnh Đồng Nai. Kết quả cho thấy tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt của lợn thương phẩm từ nái LY với đực D2 cao hơn với đực D1 tại các thời điểm 135, 165 và 195 ngày tuổi là 2,73%, 2,92% và 3,06% so với với 2,43%, 2,66% và 2,78%, tương ứng. Tỷ lệ mỡ giắt của lợn thương phẩm từ nái Landrace với đực D2 cao hơn với đực D1 là 2,61%, 3,01% và 3,10% so với 2,44%, 2,60% và 2,79%, tương ứng. Và, tỷ lệ mỡ giắt của lợn thịt từ nái Yorkshire với đực D2 cao hơn với đực D1 là 2,66%, 3,0 0% và 3,09% so với 2,47%, 2,58% và 2,77%, tương ứng. Đồng thời, qua thí nghiệm này, tuổi lợn giết mổ giai đoạn từ 165 -195 ngày ở cả hai nhóm lai thương phẩm có tỷ lệ mỡ giắt tăng nhẹ trong khoảng từ 0,26% đến 0,43%, nhưng tỷ lệ nạc ước tính của thịt xẻ đã giảm từ 0,89% đến 1,32%.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Qua nhiều thập niên, chương trình giống lợn của thế giới đã tập trung chọn tạo giống theo hướng tăng nạc và tỷ lệ thịt xẻ; giảm dày mỡ lưng đã kéo theo tỷ lệ mỡ giắt trong thịt giảm xuống làm cho thịt khô cứng hơn, giảm mức độ thơm và ngon miệng (Cameron, 1999; Doyle, 2007). Tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt lợn phụ thuộc rất lớn vào giống, nên chiến lược lai giống là con đường nhanh và rẻ tiền nh ất để làm tăng chất lượng thịt lợn (Jiang, 2012).

Ảnh hưởng của giống lợn Duroc thuần đến mỡ giắt trong thịt cũng đã được nghiên cứu và kết luận: Duroc có tỷ lệ mỡ giắt cao nhất (3,07%), còn Berkshire, Chester White, Spot, Poland China và Hampshire lần lượt là 2,51%, 2,39%, 2,37%, 2,18% và 2,09% (Goodwin, 2004). Lợn lai có tỷ lệ gen Duroc cao có hàm lượng mỡ giắt trong thăn thịt cao hơn và chất lượng thịt tốt hơn so với lợn lai có tỷ lệ gen Duroc thấp (D’Souza, 2003).

Các nghiên cứu cho thấy, khi dùng đực Duroc, Berkshire và Hampshire để sản xuất lợn thịt thương phẩm, có tỷ lệ mỡ giắt là 3,79% so với 3,11% và 2,89%, tương ứng (Goodwin, 2004). Grzeskowiak Eugenia (2007) cũng khẳng định tỷ lệ mỡ giắt của lợn thịt lai Duroc dòng mỡ với F1 LY là 4,79% so với lợn thịt từ Duroc dòng nạc là 3,25%.

Trong khi đó, tuổi giết mổ cũng có tác động đến tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt. Theo Marjeta Furman (2007), giai đoạn từ 100 kg đến 125 kg tỷ lệ mỡ giắt của tổ hợp lai Duroc dòng nạc cũng tăng lên khoảng 0,11%.

Như vậy, đề tài “Kết quả sử dụng 2 dòng đực Duroc khác nhau và tuối giết thịt đến tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt lợn lai thương phẩm ” như một giải pháp khẳng định đực Duroc chọn theo hướng mỡ giắt có thể tạo tổ hợp lai có tỷ lệ mỡ giắt cao để đáp ứng nhu cầu chất lượng thịt lợn thơm ngon hơn cho tiêu dùng hiện nay và tương lai không xa ở nước ta.

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Vật liệu/đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

Vật liệu/đối tượng

Gia súc: Dùng 2 dòng đực Duroc: dòng đực thường (D1) và đực Duroc chọ n từ nhóm có tỷ lê mỡ giắt cao trung bình 4,1% (D2) phối với nái Landrace, Yorkshire và F1 như sau:

– Duroc x F1 (Landrace x Yorkshire) được kí hiệu là D1LY.

– Duroc chọn theo hướng mỡ giắt x F1 (Landrace x Yorkshire) được kí hiệu là D2LY. – Duroc x Landrace được kí hiệu D1L.

– Duroc chọn theo hướng mỡ giắt  Landrace được kí hiệu D2L.

– Duroc x Yorkshire được kí hiệu là D1Y.

– Duroc chọn theo hướng mỡ giắt  Yorkshire được kí hiệu là D2Y.

Chuồng trại và thức ăn trong thí nghiệm : Chuồng mát bằng pad cooling để nhiệt độ chuồng nuôi khoảng 280C-300C. Ô chuồng thí nghiệm nuôi 20-30 con/chuồng với với diện tích 0,85 m2/con và máng và syclo chuyền cám tự động và lợn ăn uống tự do.

Thức ăn: Khẩu phần cân bằng Lysine/Năng lượng 3100 ME (Kcal/kg) với 1,70% Lysine giai đoạn 135-165 ngày tuổi; 3100 ME (Kcal/kg) với 1,50% Lysine giai đoạn 165- 195 ngày tuổi.

Phương tiện thí nghiệm: Máy siêu âm Aloka SSD 500v và phần mềm tính tỷ lệ mỡ giắt Biosoft Toolbox của Công ty Biotronics.In.,

Thời gian và địa điểm tiến hành

– Thời gian: đề tài được thực hiện từ tháng 1/2013 đến 12/2014

– Địa điểm: được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi heo Bình Thắng và các trang trại chăn nuôi thương phẩm ở Đồng Nai.

Nội dung nghiên cứu

Đánh giá tỷ lệ mỡ giắt và các chỉ tiê u thịt xẻ của lợn lai thương phẩm và tuổi giết mổ phối giống từ 2 dòng Duroc với nái Landrace, Yorkshire và nái F1 (Landrace  Yorkshire).

Phương pháp nghiên cứu

Thời gian nuôi dưỡng

Lợn phối theo các tổ hợp lai theo dõi đầu vào, cân khối lượng, đo mỡ giắt , chia đồng đều đực cái bố trí vào các ô chuồng tiền thí nghiệm nhằm thích nghi với chuồng trại và khẩu phần ăn lúc lợn được 120 ngày tuổi. Sau đó, vào thời điểm 135 ngày tuổi cân đo tỷ lệ mỡ giắt, dày mỡ lưng, dày thăn, diện tích thắn và khối. Các số đo t iếp tục thực hiện lúc 165 ngày và 195 ngày tuổi để cân đo kết thúc thí nghiệm.

Nuôi dưỡng và chăm sóc lợn

– Lợn được cho ăn tự do với khẩu phần của lợn sinh trưởng theo các giai đoạn tuổi.

– Nước uống được cung cấp từ nguồn nước sạch sinh hoạt chung của co n người hàng ngày.

– Chăm sóc vệ sinh thú y hàng ngày theo quy trình của Trung tâm.

Thời điểm và Phương pháp đo tỷ lệ mỡ giắt

a) Thời điểm đo mỡ giắt : 135, 165 và 195 ngày tuổi (75kg, 100 kg và 125 kg).

b) Phương pháp siêu âm bằng máy ALOKA SSD 500v với phần mềm Biosoft Toolbox.

Bố trí thí nghiệm

Chỉ tiêu theo dõi

Số đo các tính trạng mỡ giắt trong thăn thịt, dày mỡ lưng, dày thăn thịt, diện tích cơ thăn lúc 135 ngày và ước tính them tỷ lệ nạc lúc đạt 165 và 195 ngày tuổi. Ước tính tỷ lệ nạc bằng phương pháp của Kyriazakis: Y = 59 – 0.9 P2 (mm) +0.2 P2 ribeye depth (mm).

Phương pháp xử lý thống kê

Số liệu được xử lý phương pháp thống kê phân tích GLM (General Linear Model) sử dụng phần mềm SAS phiên bản 9.3.1 cho Windows để phân tích thống kê. Trắc nghiệm Duncan cũng được áp dụng để so sánh các giá trị trung bình.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tỷ lệ mỡ giắt và chỉ tiêu thịt xẻ của các tổ hợp lai tại thời điểm 135 ngày tuổi

Để nâng cao tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt nhanh, ít tốn kém và hiểu quả nhất là dùng dòng đực Duroc đã chọn theo hướng mỡ giắt lai với đàn nái F1 (Landrace  Yorkshire). Đây là xu hương lai thương phẩm có hiệu quả và phổ biến trên thế giới do tận dụng được lợi thế về tăng trưởng nhanh, chất lượng thịt thơm ngon của giống Duroc và khả năng sinh sản và làm mẹ tuyệt vời của nái lai F1 LY/YL (William, 1987). Chính vì vậy, chúng tôi cũng đã sử dụng hai dòng đực Duroc: D1 và D2 lai với lợn nái Landrace, Yorkshire và nai lai F1, kết quả của giải pháp này được trình bày tại các Bảng 1, Bảng 2 và Bảng 3 như sau

Kết quả trình bày trên bảng 1 cho thấy lợn thương phẩm từ 2 dòng đực, trừ tổ hợp lai với nái Landrace, tại thời điểm 135 ngày tuổi đã có sự khác nhau tỷ lệ mỡ giắt và dày mỡ lưng: lợn từ đực D2 (D2LY, D2L, D2Y) cao hơn từ dòng D1 (D1LY, D1L , D1Y) là 2,73%, 2,61%, 2,66%, và 9,5mm, 9,4mm, 9,6mm so với 2,43%, 2,44%, 2,47% và 8,9mm, 8,9mm, 8,9mm, tương ứng (P<0,05). Riêng các cặp lai D1LY và D2LY, chưa có sự khác biệt về tính trạng dày cơ thăn và diện tích thăn thịt (42,5mm và 29,0cm2 so với 42,9mm và 29,6cm2 . Đối với tính trạng dày mỡ lưng có sự khác nhau rõ rệt trong mỗi cặp lai giữa tổ hợp từ 2 dòng Duroc từ 0,5 đến 0,7mm. Cụ thể, trong căp lai với nái LY thì dày mỡ lưng của D2LY cao hơn D1LY là 9,5mm so với 8,9mm. Trong kết quả nghiên cứu này , tổ hợp lai từ dòng D2 có tỷ lệ mỡ giắt cao hơn các tổ hợp lai từ dòng D1. Cũng giống như nhận định của Warriss (1990), giống và nhóm giống mỡ hơn có xu hướng có tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt cao hơn các giống có tỷ lệ nạc cao.

Tỷ lệ mỡ giắt và chỉ tiêu t hịt xẻ của các tổ hợp lai tại thời điểm 165 ngày tuổi

Kết quả trình bày tại bảng 2 cho thấy, tại thời điểm 165 ngày tuổi, tỷ lệ mỡ giắt của lợn thương phẩm trong các cặp lai với đực D2 và dòng D1, thì lợn thịt từ D2 luôn có tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt và dày mỡ lưng cũng cao hơn. Tổ hợp lai D2LY, D2L và D2Y có tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt và dày mỡ lưng cao hơn tổ hợp lai D1LY, D1L và D1Y là 2,92%, 3,01% và 3,00% và 14,3mm, 14,6mm và 15,3mm so với 2,66%, 2,60% và 2,58% và 13,2mm, 13,9mm và 14,1mm (p<0,05), tương ứng. Ở thời điểm này, tính trạng diện tích thăn thịt ở tổ hợp lai từ dòng D1 (hướng nạc) cao hơn tổ hợp lai từ D2, nhưng chưa có sự sai khác có ý nghĩa thống kê từ cặp lai với nái F1, ngược lại, đã có sai khác rất có ý nghĩa ở tính trạng dày mỡ lưng và tỷ lệ nạc ước tính. Kết quả trên cũng cho thấy, trong tất cả các cặp lai, nếu tính trạng dày mỡ lưng cao thì cũng làm cho dày thăn thịt giảm xuống và kéo theo tỷ lệ nạc dự đoán cũng thấp xuống. Chính vì vậy, kết quả thí nghiệm này cũng chứng tỏ rằng, các tổ hợp lai từ D2 đã cho tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt cao hơn, nhưng tất cả các tổ hợp lai này đều có mỡ lưng dày hơn và kéo theo dày thăn thịt thấp hơn. Một điều cũng dễ nhận thấy rằng, áp dụng giải pháp lai tạo để tăng được ít nhất 0,21% mỡ giắt nhưng lại giảm đi 1% tỷ lệ nạc. Trong khi đó, quá trình chọn lọc theo hướng tăng nạc, để tăng được 1% nạc lại phải có thể bị mất đi khoảng 0,07% mỡ giắt trong thịt lợn (Dominguez, 2014). Theo Reixach và ctv. (2008) khi nghiên cứu những khác biệt về tăng trưởng và tỷ lệ mỡ giắt đã dùng đực cùng giống khác dòng cũng cho thấy những sai khác rất rõ về các chỉ tiêu thịt xẻ. Tổ hợp lai từ đực Duroc dòng mỡ giắt cao ở tuổi 165 ngày có mỡ giắt là 4,40% còn tổ hợp lai từ đực Duroc dòng nạc tỷ lệ mỡ giắt là 3,38% và dày mỡ lưng là 14,8 mm so với 13 mm, tương ứng. Đồng thời, dày thăn và tỷ lệ nạc của tổ hợp lai từ Duroc dòng nạc cũng dày hơn và cao hơn tổ hợp lai từ duroc dòng mỡ là 50,1 mm và 52,2% so với 46,8 mm và 49,1%, tương ứng. Cilla và ctv., (2006) đã sử dụng 3 dòng đực Duroc có tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt khác nhau lai với lợn nái F1 (LY) và kết luận rằng ảnh hưởng của dòng đực lên tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt rất rõ ràng: lợn thịt từ D3LY có tỷ lệ mỡ giắt cao hơn D2LY và D1LY là 4,72% so với 4,44% và 4,10%, tương ứng. Kết quả của nghiên cứu này của chúng tôi và của Cilla (2006) cũng không phải là ngoại lệ. Cụ thể dày thăn thịt của lợn thương phẩm trên thí nghiệm của Cilla (2006) gồm D3LY, D2LY và D1LY lần lượt là 53,1mm, 54,2mm và 57,6mm, tương ứng. Tác giả khác cũng đã tìm thấy sự khác biệt trong chỉ tiêu tỷ lệ nạc giữa các dòng Duroc khác nhau như tỷ lệ thịt nạc ước tính cho D3LY, D2LY và D1LY có thứ tự ngược lại với tỷ lê mỡ giắt và dày mỡ lưng (51,4%, 47,0% và 44,9%, tương ứng). Soriano và ctv., (2005) đã dùng dòng Duroc nạc (De) và dòng Duroc mỡ (Ds) phối với nái nền F1 Landrace  Duroc. Kết quả thời điểm 180 ngày tuổi, lợn thương phẩm từ De tăng trọng nhanh hơn lợn thương phẩm từ Ds và tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt ở lợn thương phẩm từ De cũng thấp hơn 2,54% so với 3,92% ở lợn thương phẩm từ Ds. Đồng thời dày mỡ lưng cũng thấp hơn là 28,9mm so với 32,8mm.Thí nghiệm của Damon và ctv., (2006), trên lợn lai so sánh giữa dòng Duroc mỡ cao (Dhf) và mỡ thấp (Dfl), cho thấy, lúc 155 ngày tuổi tổ hợp lai DhfY dày mỡ lưng cao hơn so với DlfY, 19,9mm so với 17,2mm, tương ứng. Đồng thời tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt DhfY cũng cao hơn tổ hợp lai DlfY là 2,82% so với 1,15%, tương ứng.

Kết quả trình bày ở Bảng 3 cho thấy, tại thời điểm 195 ngày tuổi, tỷ lệ mỡ giắt và dày mỡ lưng của các tổ hợp lai lợn thương phẩm D2LY, D2L và D2Y cao hơn D1LY, D1L và D1Y là 3,06%, 3,10% và 3,09% và 16,7mm, 17,0mm và 17,5mm so với 2,78%, 2,79% và 2,77% và 15,5mm, 16,0mm và 16,5mm, tương ứng (P<0,05). Ngoại trừ cặp lai với LY, ở các cặp lai còn lại có sự sai khác rõ rệt về diện tích thăn thịt và dày thăn thịt giữa các cặp lai từ D2 và D1 là 41,0cm2 , 39,5cm2 và 39,5cm2 và 60,0mm, 58,6mm và 57,8mm ở D2LY, D2L và D2Y so với 41,5cm2 , 41,5cm2 và 41,7cm2 và 59,7mm, 59,7mm và 59,5mm ở tổ hợp lai D1LY, D1L và D1Y, tương ứng. Điều làm cho tỷ lệ nạc ước tính của tổ hợp lai từ D2 thấp hơn từ D1. Đặc biệt, tổ hợp lai thương phẩm phổ biến là D2LY thấp hơn 0,9% so với tổ hợp lai D1LY, là 56,2% so với 57,1%. Như vậy, tại thời điểm 195 ngày tuổi, các tổ hợp lai từ đực D2 đều có tỷ lệ mỡ giắt trên 3%. Ở tuổi này, các tổ hợp lai từ D1 có tỷ lệ mỡ giắt trong t hăn thịt chấp nhận được là 2,78%, 2,78% và 2,77% cho các tổ hợp D1LY, D1L và D1Y, tương ứng. Kết quả nghiên cứu này rất gần giống với báo cáo của Ellis (1998), rằng tổ hợp lai thương phẩm từ Duroc dòng mỡ cho tỷ lệ mỡ giắt cao hơn là 3,03% so với lợn thịt từ Duroc dòng nạc chỉ 2,71%. Đồng thời, kể cả diện tích cơ thăn của lợn thịt từ Duroc dòng nạc cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với lợn thịt từ Duroc dòng mỡ cao là 41 cm2 so với 39,6 cm2, tương ứng.

Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi giết thịt lên tỷ lệ mỡ giắt, Candek-Potokar (1998) đã thí nghiệm so sánh thời điểm 100kg và 130kg trên tổ hợp lai Duroc với F1 LY cho thấy, thời điểm đạt 100kg, tỷ lệ mỡ giắt đạt 2,27%, dày mỡ lưng 27,3mm, diện tích cơ thăn 34,7 cm 2 ; trong lúc đó ở thời điểm 130kg, tỷ lệ mỡ giắt đã tăng lên đến 2,93% dày mỡ lưng 34,2mm, diện tích cơ thăn 44,1 cm2 . Riêng nghiên cứu của Reixach và ctv., (2008), cũng cho thấy ở tuổi 200 ngày tổ hợp lai từ Duroc dòng nạc đạt khối lượng 124,4 kg và có dày mỡ lưng là 18,2 mm, trong khi đó tổ hợp lai từ Duroc dòng mỡ chỉ đạt khối lượng 121,5 kg và có dày mỡ lưng khá cao là 19,8 mm. Tương tự, tính trạng dày thăn của tổ hợp lai từ Duroc dòng nạc cũng dày hơn tổ hợp lai từ Duroc dòng mỡ là 51,6 mm so với 47,5 mm, tương ứng. Qua phân tích công thức lai có nguồn gen Duroc, Grzeskowiak Eugenia (2007) cho thấy tỷ lệ mỡ giắt của lợn thịt lai Duroc (DLY) trên 100kg là 4,79% so với đực cuối cùng có gen Duroc nạc (DhLY) là 3,25%. Thế nhưng, dày mỡ lưng và tỷ lệ thịt nạc của nhóm DLY lại thấp hơn nhóm DhLY là 21,5 mm và 51,0% so với 23mm và 55%, tương ứng. Điều này chứng tỏ rằng, với yếu tố giống và điều kiện nuôi dưỡng khác nhau thì không thể khẳng định tỷ lệ thịt nạc phụ thuộc nhiều hoàn toàn vào tính trạng mỡ lưng, nhưng phần lớn các nghiện cứu hiện nay khẳng định rằng tỷ lệ mỡ giắt ở lợn thịt cao thì tỷ lệ nạc thấp xuống.

Qua bảng 2 và 3 chúng ta cần phải lưu ý rằng giai đoạn từ 100kg đến 125kg ở cả 2 nhóm lợn lai tỷ lệ mỡ giắt tăng lên không đáng kể (0,14%). Trong khi đó, tỷ lệ nạc ước tính trong thịt xẻ ở cả 2 nhóm lại giảm xuống 1,0-1,3%, do mỡ lưng dày thêm lên 2,3-2,4mm. Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của Beattie (1999) khi thí nghiệm trên các công thức lai cho thấy khi khối lượng tăng lên tỷ lệ nạc trong thịt xẻ giảm xuống còn tỷ lệ mỡ giắt thay đổi không đáng kể trên các tổ hợp lai mà ông nghiên cứu.

Tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt lợn lai thương phẩm từ nái lai F1 LY với đực dòng Duroc được chọn theo hướng mỡ giắt cao hơn thịt lợn lai thương phẩm từ nái lai F1 LY với đực Duroc thường ở mọi thời điểm 75kg, 100kg và 125kg là 2,73%, 2,92% và 3,06% so với 2,43%, 2,66% và 2,78%, tương ứng.

Từ giai đoạn từ 100kg đến 125kg ở cả 2 nhóm lợn lai thương phẩm tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt lợn tăng lên không đáng kể với 0,12% -0,14%, nhưng tỷ lệ thịt nạc ước tính trong thịt xẻ lại giảm xuống 1,0-1,3%. Theo Marjeta Furman (2007), giai đoạn từ 100 kg đến 125 kg tỷ lệ mỡ giắt của tổ hợp lai Duroc dòng nạc cũng tăng lên khoảng 0,11%. Trong trường hợp của chúng tôi tổ hợp lai Duroc dòng thường (dòng nạc) cũng tăng lên 0,12%, 0,18% và 0,19% đối với D1LY, D1L và D1Y, tương ứng. Còn tổ hợp lai từ Duroc chọn theo hướng mỡ giắt tăng lên 0,14%, 0,09% và 0,09% đối với D2LY, D2L và D2Y, tương ứng.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Kết luận

a) Sử dụng đực Duroc chọn theo hướng tăng mỡ giắt và tuổi giết thịt đã cải thiện được tỷ lệ mỡ giắt trên lợn thương phẩm:

– Tại thời điểm 135 ngày tuổi, tổ hợp lai D2LY, D2L, D2Y có tỷ lệ mỡ giắt cao hơn D1LY, D1L, D1Y là 2,73%, 2,61%, 2,66% so với 2,43%, 2,44%, 2,47% tương ứng.

– Tại thời điểm 165 ngày tuổi, tổ h ợp D2LY, D2L, D2Y có tỷ lệ mỡ giắt và dày mỡ lưng cao hơn D1LY, D1L, D1Y là 2,92%, 3,01% và 3,00% và 14,3mm, 14,6mm và 15,3mm so với 2,66%, 2,60% và 2,58% và 13,2mm, 13,9mm và 14,1mm (p<0,05), tương ứng.

– Tại thời điểm 195 ngày tuổi, tỷ lệ mỡ giắt của các tổ hợp lai mà mục tiêu của đề tài đặt ra là D2LY, D2L và D2Y cao hơn D1LY, D1L và D1Y là 3,06%, 3,10% và 3,09% so với 2,78%, 2,79% và 2,77%, tương ứng.

b) Tỷ lệ mỡ giắt có xu hướng tăng lên theo tất cả các lứa tuổi và tuổi từ 165 -195 ngày, tỷ lệ mỡ giắt của lợn lai thương phẩm từ Duroc chọn theo hương mỡ giắt luôn cao hơn từ Duroc dòng thường từ 0,26-0,43%, nhưng tỷ lệ nạc lại thấp hơn từ 0,89 đến 1,32%.

Đề nghị

Sử dụng đực Duroc chọn theo hướng mỡ giắt lai với nái F1 LY để có tổ hợp lai thương phẩm vừa thoả mãn tăng tỷ lệ mỡ giắt trong thăn thịt và nhưng không giảm nhiều tỷ lệ nạc ước tính so với tổ hợp lai với Duroc thường.

Lê Phạm Đại và CS.

Phân viện Chăn nuôi Nam bộ, Viện Chăn nuôi

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ