Khả năng sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của gà lai Ri x Lương Phượng và Mía x Lương Phượng nuôi an toàn sinh học

Nghiên cứu được tiến hành tại 2 hộ chăn nuôi gà ở Hiệp Hòa, Bắc Giang nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của 2 công thức lai Ri x Lương Phượng và Mía x Lương Phượng theo phương thức nuôi an toàn sinh học. Kết quả cho thấy khối lượng cơ thể của gà trống và mái của Mía lai đạt 2.625,7 và 1.822,7 g/con cao hơn gà Ri lai chỉ đạt 2.532,13 và 1.775,3 g/con. Hiệu quả sử dụng thức ăn ở gà Mía lai là 3,15kg cao hơn gà Ri lai là 3,09kg. Chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế là 67,07-2,13 và 64,45-2,08. Chăn nuôi gà Mía lai và Ri lai mang lại hiệu quả kinh tế sau 14 tuần nuôi: tính theo 100 con ở gà Mía lai là 4.867.140 đồng và Ri lai là 4.376.900 đồng.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi an toàn sinh học (ATSH) là một trong những biện pháp tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất chăn nuôi. ATSH không chỉ giúp người chăn nuôi hạn chế được dịch bệnh cho vật nuôi, tiết kiệm được chi phí công tác thú y mà còn tăng được năng suất chăn nuôi, sản xuất ra nguồn sản phẩm có chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng uy tín, thương hiệu cho cơ sở sản xuất. Đầu ra cho sản phẩm được ổn định. Đặc biệt, trong xu thế chất lượng cuộc sống của người dân luôn được nâng cao thì sản phẩm của chăn nuôi ATSH được người dân chú trọng tiêu dùng từ đó lợi nhuận được nâng lên, vì sản phẩm của chăn nuôi ATSH không ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng, môi trường trong vùng chăn nuôi luôn được đảm bảo. Trong thời kỳ hội nhập hiện nay chăn nuôi ATSH là tiền đề tạo cho ngành nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi phát triển bền vững (Nguyễn Hoài Châu, 2006). Chăn nuôi ATSH chính là phương thức chăn nuôi áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp kỹ thuật nhằm quản lý, ngăn ngừa sự tiếp xúc giữa vật nuôi với mầm bệnh, tạo ra sản phẩm an toàn đối với sức khoẻ cộng đồng và đảm bảo lợi ích kinh tế cho người chăn nuôi (Lê Việt Anh, 2003).
Hiện nay, các hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện đang có xu hướng sử dụng khá phổ biến chế phẩm sinh học làm đệm lót để xử lý phân gà nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường, giảm mùi hôi và góp phần hạn chế bệnh cho đàn gà đặc biệt là bệnh về đường hô hấp. Mặt khác, giúp giảm công lao động, các chi phí do phải dọn phân, thay chất độn chuồng.
Triển khai mô hình chăn nuôi gà theo hướng ATSH nhằm xây dựng quy trình chăn nuôi gà thả vườn theo hướng sạch từ khâu con giống đến quá trình chăn nuôi, vệ sinh thú y, vệ sinh giết mổ, thực hiện tốt chương trình vaccine và hạn chế dùng thuốc kháng sinh để giảm thiểu bệnh tật và không gây ô nhiễm môi trường. Mô hình giúp cho người nông dân đã tiếp cận được quy trình nuôi theo hướng ATSH, có được cái nhìn khác hơn về việc chăn nuôi theo hướng bảo vệ môi trường, được trao đổi học hỏi tiếp thu kỹ thuật mới để có thể tự áp dụng chăn nuôi trên quy mô rộng. Đây là hướng đi mới, có hiệu quả không những có thể áp dụng cho một số nông hộ mà có thể áp dụng rộng rãi cho người nông dân chăn nuôi toàn tỉnh trong điều kiện dịch bệnh ngày càng phức tạp và nguy hiểm như hiện nay.

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu

Tổng số 150 con gà Ri lai (♂Rix♀LP) và 150 con gà Mía lai (♂Míax♀LP) từ 1 ngày tuổi đến 14 tuần tuổi nuôi tại 2 hộ chăn nuôi của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
2.2. Phương pháp
Đàn gà thí nghiệm (TN) được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh ngẫu nhiên một nhân tố. Giữa các lô có sự đồng đều về tuổi, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, qui trình thú y phòng bệnh… chỉ khác nhau về yếu tố TN: công thức lai. Gà thương phẩm chọn lúc 01 ngày tuổi đảm bảo đồng đều về khối lượng, đặc điểm ngoại hình.
Phương thức nuôi: Giai đoạn nuôi úm từ 1 ngày tuổi (nt) đến 4 tuần tuổi (TT), cả 2 loại gà được nuôi bằng quây cót, nền rải trấu, máng ăn, máng uống tự do…
Giai đoạn từ 4 tuần tuổi đếm 14 tuần tuổi nuôi theo qui trình chăn nuôi gà theo Quy trình nuôi gà thả vườn theo tiêu chuẩn Viet- GAHP
Nuôi nhốt trong chuồng thông thoáng tự nhiên, có đệm lót trấu, có quạt chống nóng, trên mái có hệ thống phun nước. Giữa các lô có sự đồng đều về tuổi của gà, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quy trình thú y phòng bệnh. Sinh trưởng tích luỹ (g): Khối lượng cơ thể (KL) tại các thời điểm 1nt; 2, 4, 6tt: Cân từng con một, vào buổi sáng trước khi cho ăn. Gà 1 ngày tuổi được cân bằng cân kỹ thuật có độ chính xác 0,05g; 1-8tt bằng cân đồng hồ Nhơn Hoà loại 2kg và 10-14 TT bằng cân đồng hồ loại 5kg.

Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày), sinh trưởng tương đối (%): phương pháp thông dụng.
Lượng thức ăn thu nhận (g/con/ngày):
Hàng ngày cân thức ăn cho vào, ngày hôm sau cân thức ăn thừa để xác định lượng thức ăn thu nhận. Hiệu quả sử dụng thức ăn: được đánh giá bằng tiêu tốn thức ăn và chi phí thức ăn cho 1kg tăng khối lượng (TKL) tại các thời điểm 2, 4, 6…14 TT.
Giá chi phí TA/kg TKL (đ/kg) là tỷ lệ giữa tổng chi phí TA và tổng KL tăng.
2.3. Xử lý số liệu
Các số liệu thu được từ thí nghiệm được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học trên máy vi tính bằng chương trình Excel 2010 và minitab 14.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khả năng sinh trưởng của gà lai
3.1.1. Sinh trưởng tích lũy

Số liệu ở bảng 1 cho thấy KL gà ở các hộ theo dõi chăn nuôi ATSH có KL sinh trưởng phát triển đồng đều tăng dần qua các tuần tuổi, phù hợp với quy luật sinh trưởng chung của gia cầm. Sau 14 tuần tuổi nuôi từ khi triển khai nghiên cứu cho thấy, con lai RixLP phát triển tốt, KL con trống đạt bình quân 2.532,13g, gà mái là 1.775,3g. Gà lai MíaxLP có KL cao hơn gà Ri lai con trống đạt 2.625,7g con mái đạt 1.822,7g, giữa hai nhóm gà lai này có sự sai khác rõ rệt về KL 1NT-14 tuần tuổi (P<0,05). Nguyễn Quí Khiêm và ctv (2015) đã đánh giá KL gà lai (RixTP) và (RixHung lai) có KL kết thúc lúc 14 tuần tuổi đạt 2.061,11g và 1.635,76g. Theo Hồ Xuân Tùng và ctv (2010) cho biết gà R1A có KL đạt 2.069,1g, gà R1B 2.095,6g và gà LP 2.396,9g. Tác giả Lê Xuân Sơn (2013) cho biết kết quả nghiên cứu gà lai giữa MíaxTP3 lúc 12 tuần tuổi KL gà đạt 1.918,02g và TP3xMía đạt 1.898,37g. Kết quả nghiên cứu này thấp hơn gà LP (2.449,97g) của Phùng Đức Tiến và ctv (2015). Theo kết quả của Lê Xuân Sơn (2013) về KL gà trống, còn ở gà mái gà lai Mía, lai Ri đều cao hơn. Kết quả này có KL lại cao hơn theo báo cáo của Bùi Hữu Đoàn và ctv (2011) trên gà lai F1(HồxLP)xLP lúc 12 tuần tuổi đạt 2.075g. Trần Quốc Hùng và ctv (2015) KL tổ hợp lai VTB (♂VCN-Z15x♀LV) 12 tuần tuổi đạt 1.703,73g, thấp hơn gà trống Mía lai, Ri lai nhưng lại cao hơn so với KL của gà mái trong nghiên cứu này.

3.1.2. Sinh trưởng tuyệt đối
Tốc độ sinh trưởng đều theo qui luật bình thường, tốc độ có giảm dần theo độ tuổi lớn lên, có sự sai khác rõ rệt (P<0,05) giữa gà Mía lai và Ri lai qua các tuần tuổi. Sinh trưởng tuyệt đối ở giai đoạn kết thúc 12-14 tuần tuổi của gà trống – mái: Mía lai, Ri lai lần lượt là 15,47- 13,36 g/ngày; 12,98-11,86 g/ngày. Có sự khác nhau về sinh trưởng tuyệt đối ở con trống, con mái giữa hai giống từ 2 tuần tuổi đến 14 tuần tuổi, có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Nhìn chung sinh trưởng tuyệt đối gà Mía Lai thường cao hơn gà Ri lai nhất là ở con trống. Sinh trưởng tuyệt đối của gà Mía lai và Ri lai từ 1NT đến 14 tuần tuổi con trống (26,79-25,84 g/ngày), con mái là: 18,86-17,91 g/ ngày, qua đó cho thấy tốc độ sinh trưởng ở gà trống thường cao hơn gà mái sau qua các giai đoạn tuần tuổi.

Theo Nguyễn Quý Khiêm và ctv (2015) nghiên cứu trên tổ hợp lai gà lai: RTP, RHL đạt tương ứng: 20,6 và 16,34 g/ngày so với kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn gà tổ hợp lai RTP và RHL ở gà trống, nhưng lại tương đương ở con mái. Tác giả Phùng Đức Tiến và ctv (2015) cho biết sinh trưởng trung bình tuyệt đối của các giống gà nuôi đến 14 tuần tuổi như gà Chọi đạt 15,92 g/con/ngày; gà LP là 24,62 g/con/ngày và gà lai F1(ChọixLP) là 21,07 g/con/ngày. Nếu so với trung bình sinh trưởng của gà Mía lai đạt 20,6 g/con/ngày; gà Ri lai đạt 20,08 g/con/ngày trong nghiên cứu này có tốc độ sinh trưởng cao hơn gà Chọi, tương đương với gà lai F1(ChọixLP), nhưng chỉ thấp hơn gà LP.
Theo kết quả Hồ Xuân Tùng và ctv (2010) tốc độ sinh trưởng của gà Mía lai và gà Móng lai lúc 12 tuần tuổi cũng đạt 18,66 g/ngày và 18,64 g/ ngày, ở gà LP 28,10 g/ngày. Theo tác giả Nguyễn Đức Hưng và ctv (2017) về gà 3FV, Dabaco, Lượng Huệ (Hải Phòng) nuôi ở Thừa Thiên Huế đạt tương ứng: 19,72; 20,20; 17,59 g/ngày kết quả của chúng tôi đều cao hơn ở con trống, còn con mái thì thấp hơn so với các nghiên cứu này nhưng thấp hơn so với gà LP.
3.1.3. Sinh trưởng tương đối của gà
Tốc độ sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của KL cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát. Từ KL cơ thể gà, xác định tốc độ sinh trưởng tương đối của gà TN (Bảng 3).

Tốc độ sinh trưởng tương đối của gà Mía lai và Ri lai trong nghiên cứu đều có xu hướng giảm dần theo tuần tuổi và giảm mạnh ở tuần cuối điều này phù hợp với qui luật sinh trưởng bình thường, tốc độ sinh trưởng từ giai đoạn 2 tuần tuổi đến 12 tuần tuổi có xu hướng tăng lên cao sau đó đều giảm ở giai đoạn 12-14 tuần tuổi, đồng thời tốc độ sinh trưởng ở giai đoạn này gà Mía lai có tốc độ sinh trưởng tương đối cao hơn gà Ri lai. Trung bình 14 tuần tuổi ở con trống có tốc độ sinh trưởng là 10,61% (Mía lai) cao hơn 8,24% (Ri lai).
Đối với gà mái cũng có xu hướng tăng đến 12 tuần tuổi trên cả gà Mía lai và Ri lai sau đó giảm; con mái lần lượt là 9,79- 8,46%. Theo bảng 3 cho thấy tốc độ sinh trưởng tương đối đều ở hai giống gà lông màu này, tuy nhiên gà Mía lai ở tuần tuổi thứ 14 vẫn có tốc độ sinh trưởng cao hơn gà Ri lai. Qui luật sinh trưởng tương đối của giống gà Mía lai, Ri lai cũng giống với các qui luật của các tác giả nghiên cứu trước đây về sinh trưởng tương đối ở gà Ri lai, Mía lai và các tổ hợp lai khác như Hồ Xuân Tùng và ctv (2010); Nguyễn Đức Chung và ctv (2015); Phùng Đức Tiến và ctv (2015); Nguyễn Đức Hưng và ctv (2017); Hoàng Tuấn Thành và ctv (2017).

Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của gà Mía lai và Ri lai sẽ xuống chậm và chững lại ở sau 12-14 tuần tuổi, có nghĩa trong chăn nuôi gà thịt không nên kéo dài thời gian nuôi, nên giết mổ vào giai đoạn 12-14 tuần tuổi để mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
3.2. Hiệu quả sử dụng thức ăn

Tiêu tốn thức ăn/TKL giữa gà Mía lai và Ri lai có sự chênh lệch nhau ở các tuần tuổi: gà Ri lai thấp hơn gà Mía lai. Tính chung TTTA cho gà Mía lai là 3,15kg TA/kg TKL, cao hơn gà Ri lai 3,09kg TA/kg TKL, không chênh lệch nhau nhiều so với TTTA của nhóm gà lông màu công bố trước đây. Theo nghiên cứu của Hồ Xuân Tùng và ctv (2010) cho biết sau 12 tuần tuổi có TTTA của gà (MíaxLP) và gà (MóngxLV) là tương đương nhau 3,14 và 3,17kg trong khi đó gà Mía có TTTA là 3,2kg; theo Nguyễn Quý Khiêm và ctv (2015) cũng báo cáo gà Ri cao hơn mức 3,74kg, gà TP1 ở mức 3,3kg còn gà RTP tiêu tốn hết 3,13kg. Như vậy, trong nghiên cứu này của chúng tôi, gà Mía lai và Ri lai có TTTA thấp hơn. Tác giả Hoàng Tuấn Thành (2017) ở thời điểm 8 tuần tuổi TTTA của gà LV425 là 2,38kg thấp hơn hơn so với gà LV123 là 2,47kg nếu so với kết quả của chúng tôi trong nghiên cứu này ở cùng thời điểm 8 tuần tuổi mức TTTA/kg TKL cao hơn. Kết quả Lê Xuân Sơn (2013) tiêu tốn thức ăn/kg TKL của gà Mía là 3,26kg. Theo kết quả của Nguyễn Đức Hưng và ctv (2017) trên gà 3FV, gà Ri lai Dabaco và gà Lượng Huệ (Hải Phòng) có TTTA lần lượt là 2,53-2,48 và 2,79kg. Kết quả trong nghiên cứu này về tiêu tốn thức ăn/kg TKL đều cao hơn có thể các giống gà lai lông màu ở các tổ hợp lai có thành phần giống khác nhau, khối lượng khác nhau thì có mức tiêu tốn khác nhau. Nếu so với mức TTTA ở gà Mía thuần (3,2kg TA/kg TKL) và gà Ri thuần (3,74kg TA/kg TKL) thì gà Mía lai và Ri lai có mức tiêu tốn thấp hơn.
3.3. Chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế của gà Mía lai và Ri lai
Kết thúc thời gian nuôi gà thương phẩm 14 tuần tuổi, chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế của gà Mía lai là 67,07 và 2,13 đều cao hơn so với gà Ri lai (64,45 và 2,08). Theo tính toán về chi thức ăn/kg TKL thì gà Mía lai là 42.520 đồng, cao hơn so với gà Ri lai (41.710 đồng). Chi phí này cũng tương đương với kết quả của Nguyễn Quý Khiêm và ctv (2015) cho biết gà Ri là 41.710 đồng; gà Đông Tảo là 39.950 đồng, chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế ở gà TP là 81,62 và 2,36; ở gà RTP là 61,23 và 1,71; ở gà ĐTP là 62,74-1,74. Nhiều tác giả cho rằng chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế thường đạt cao ở giai đoạn 12-14 tuần tuổi ở gà thương phẩm, vì vậy nên xuất thịt ở giai đoạn này là đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

3.4. Hiệu quả kinh tế
Tính toán sơ bộ cho thấy, khi nuôi gà thịt Ri lai và Mía lai đến 14 tuần tuổi cho tổng thịt hơi bán ra thị trường của gà Mía lai nhiều hơn so với gà Ri lai, bởi vì cùng nuôi trong điều kiện nông hộ nhưng gà Mía lai cho sinh trưởng cao hơn gà Ri lai cho nên có thu nhập cao hơn. Tính cho 100 con gà Mía lai cho thu nhập 4.867.140 đồng, chênh lệch cao hơn 490.240 đồng so với nuôi gà Ri lai (4.376.900 đồng). Hiện nay, gà Mía lai và Ri lai được người dân ưa chuộng, giá cả ổn định, cho thu nhập khá cao và hiệu quả chăn nuôi chúng mang lại tương đối cao.

4. KẾT LUẬN
Mô hình chăn nuôi gà thả vườn ATSH đã mang lại hiệu qủa kinh tế cao cho người chăn nuôi. Thông qua mô hình bước đầu người nông dân đã tiếp cận được quy trình nuôi theo hướng ATSH, có được cái nhìn khác hơn về việc chăn nuôi theo hướng bảo vệ môi trường, được trao đổi học hỏi kinh nghiệm và tiếp thu kỹ thuật mới để có thể tự áp dụng chăn nuôi trên quy mô rộng.
Gà Mía lai nuôi thịt đến 14 tuần tuổi có khối lượng gà trống, mái lần lượt là 2.625,7 và 1.822,7 g/con cao hơn gà Ri lai LP tương ứng là 2.532,13 và 1.775,3 g/con.
Gà Mía lai LP và Ri lai LP có mức TTTA là 3,15 và 3,09kg TA/kg TKL với các chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế lần lượt là 67,07-2,13 và 64,45-2,08.
Chăn nuôi gà Mía lai và Ri lai với LP mang lại hiệu quả kinh tế sau 14 tuần nuôi tương ứng là 4.867.140 và 4.376.900 đồng/100 con.

Đặng Hồng Quyên*, Lê Văn Tuấn, Nguyễn Thị Khánh Linh và Ngô Thành Vinh

Trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ