Khái niệm và năng lực cốt lõi một sức khỏe (One Health)

Một sức khỏe là một khái niệm mới, mục đích đem lại sức khỏe cho con người, động vật, và môi trường .Để đạt được những cách tiếp cận một cách hài hòa nhằm phát hiện bệnh và phòng chống bệnh là vấn đề khó khăn bởi vì ranh giới truyền thống của nhân y và thú y cần được vượt qua. Đây không phải là vấn đề mới bởi vì từ thế kỷ XIX và XX, các nhà nghiên cứu như Louis Pasteur và Robert và các bác sĩ như William Osler, Rudolph Virchow đã đề cập đến vấn đề vượt qua ranh giới giữa sức khỏe động vật và sức khỏe con người.Gần đây, Calvin Schwabe đã đề cập lại các khái niệm về One Medicine. Đây là bước quan trọng cho sự tiến  bộ của dịch tễ học, đặc biệt là khi áp dụng cho các bệnh trên động vật

– Một sức khỏe là một phương thức phối hợp đa ngành nhằm tăng cường sức khỏe con người, động vật và môi trường đã được FAO, OIE và WHO công nhận. Phương thức tiếp cận Một sức khỏe nhằm khuyến khích nỗ lực phối hợp đa ngành tại các cấp địa phương, quốc gia, quốc tế và áp dụng các kiến thức chuyên môn nhằm cải thiện tối đa sức khỏe con người,vật nuôi và môi trường. Ngoài áp dụng cho các bệnh truyền nhiễm, Một sức khỏe (OH) còn là nội dung quan trọng cho công tác phòng ngừa, giám sát và ứng phó các bệnh có nguồn gốc từ động vật  (cúm gia cầm độc lực cao (HPAI), bệnh Dại, bệnh Nhiệt Thán).

– Dưới góc độ bệnh lây truyền giữa động vật và người, Một sức khỏe được hiểu là sự dự phòng các bệnh lây truyền từ động vật sang người bằng việc kiểm soát sự lây nhiễm và bệnh ở các quần thể hệ sinh thái.

Nhìn một cách tổng quát, Một sức khỏe là một khái niệm rộng, phản ánh bất kỳ mối quan hệ nào giữa sức khỏe con người, động vật và môi trường. Từ góc độ y tế và thú y, mục tiêu cuối cùng của Một sức khỏe là làm thế nào để có “Một sức khỏe” con người tốt nhất. Hay nói cách khác sức khỏe con người là trung tâm và được đặt trong mối quan hệ với sức khỏe động vật và môi trường.

 Mặc dù có quá nhiều định nghĩa về Một sức khỏe đang được sử dụng hiện nay nhưng nhìn chung ý nghĩa của nó vẫn là sự hợp tác giữa các ngành (liên ngành). Hợp tác trên các lĩnh vực có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe, đến sự tối ưu hóa nguồn lực đồng thời phải nỗ lực tôn trọng quyền tự chủ của các lĩnh vực khác nhau. Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp tiếp cận Một sức khỏe, việc cần thiết là phải thiết lập một sự cân bằng tốt hơn giữa các nhóm ngành hiện có và mạng lưới, đặc biệt là giữa các bác sĩ thú y và các bác sĩ nhân y, tăng cường sự tham gia của các chuyên gia về sức khỏe môi trường và chuyên gia về động vật hoang dã, cũng như các nhà khoa học xã hội và các tổ chức phát triển

Cần phải thấy rằng có sự gắn bó chặt chẽ giữa sức khỏe con người, sức khỏe động vật và hệ sinh thái. Một sức khỏe đã tìm cách thúc đẩy, nâng cao và bảo vệ sức khỏe của tất cả các loài bằng cách tăng cường hợp tác giữa các bác sĩ nhân y, bác sĩ thú y, các nhà khoa học y học và các chuyên gia về môi trường để phát huy thế mạnh trong lĩnh vực lãnh đạo và quản lý để đạt được những mục tiêu này.

Một sức khỏe là các nỗ lực hợp tác của nhiều lĩnh vực cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu để đạt được sức khỏe tối ưu cho người, động vật và môi trường của chúng ta.

Phương pháp tiếp cận Một Sức khỏe kêu gọi một sự thay đổi mô hình phát triển, thực hiện và duy trì chính sách y tế có sự tham gia chủ động hơn của các ngành Y tế, Thú y, khoa học môi trường, Thổ nhưỡng, bảo vệ thực vật và một số ngành khác có liên quan đến tính bền vững cảu sức khỏe, liên quan tới sự tương tác của con người với thế giới tự nhiên. Một cách tiếp cận hợp tác xuyên ngành để cải thiện sức khỏe con người, động vật và môi trường, được xác nhận bởi Tổ chức Nông lương Quốc tế (FAO), Tổ chức sức khỏe động vật Quốc tế (OIE) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

one health

                                                            Nguồn : Phạm Đức Phúc, 2014

1.2. Lịch sử phát triển cách tiếp cận một sức khỏe

Theo tài liệu khảo cổvề vi sinh học, trước khi gia súc được thuần hóa người ta đã phát hiện ra bệnh truyền lây từ thú hoang dã sang người, người Ai Cập khoảng 1800 năm trước Công nguyên lần đầu tiên nói bệnh chó dại lây sang người và đã có những ý tưởng liên quan đến cách chữa bệnh chung cho người. Sách cổ Hy Lạp khoảng 1200 trước công nguyên cũng đã nối đến bệnh của động vật lây sang người, Aris-Tốt 350 trước công nguyên đã mô tả bệnh dại, uốn ván, tỵ thư có lây sang người.

Trải qua nhiều vụ dịch nhiều thời kỳ, con người đã tích lũy và rút ra được một số kinh nghiệm thô sơ trong việc phòng chống bệnh từ động vật sang người. Hyppocrates ở Hy lạp cho rằng bệnh lây lan là do con người tiếp xúc động vật bệnh, quan điểm này sau đó được chứng minh và phát triển ở Babylon trên thung lũng song Nile, ở Ấn Độ, tiếp sau là Virgil và Galen ở Rome đã nhận thấy có mối liên quan giữa bệnh của động vật và của con người. Như vậy quá trình hình thành, phát triển của cách tiếp cận “Một sức khỏe” đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Ở Trung Quốc đã phát triển ngành thú y thành một ngành riêng vào khoảng thế kỉ 11-13. Claude de Bourgelat là người thành lập trường học thú y đầu tiên năm 1762 tại Lyon, Pháp và ông đã bị chỉ trích nặng nề khi đưa ra các giáo trình y học của người dạy cho các sinh viên thú y.

Thế kỷ 19 với sự ra đời của ngành bệnh học tế bào, các nhà khoa học như Rudolf  Virchow đã theo hướng nghiên cứu kết hợp các ngành khoa học về sức khỏe của người và khoa học thú y dựa trên sự giống nhau của quá trình sinh bệnh giữa con người và động vật. Tuy nhiên phải đến năm 1976 Clavin Schwabe mới là người chính thức có một ý tưởng bao quát về khái niệm  “One Medicine”, mô tả một cách hệ thống giữa con người và động vật về các mặt như dinh dưỡng, làm việc và sức khỏe. Ngày nay hình thức chữa bệnh cổ xưa cho người và động vật vẫn được thực hiện ở các cộng đồng du mục truyền thống ở Châu Phi.

Như vậy khái niệm “One Medicine” được hiểu ở phạm vi tương đối hẹp vì nó liên quan nhiều đến các kiến thức cơ bản chung của các ngành khoa học nói trên và tạm dừng lạị ở cấp độ cá thể của con người và động vật. Nếu chúng ta đặt vấn đề sức khỏe con người và sức khỏe động vật trong bối cảnh có sự tương tác giữa con người, động vật và cả môi trường sống của chúng ta thì khái niệm này sẽ trở thành khái niệm “Một sức khỏe”.

Rudolf Virchow ở thế kỷ 19 (bác sĩ và là chính trị gia người Đức): đã đề cập đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa sức khỏe con người và động vật. Osler (1849- 1919): được nhiều người biết đến như là cha đẻ của khái niệm “Một sức khỏe”.

Calvin Schwab (1976) đề xuất thuật ngữ “One medicine” và đề xuất một cách tiếp cận thống nhất chống lại các bệnh truyền lây bằng cách sử dụng thuốc cho con người và động vật. Ông có nhiều đóng góp quan trọng vào dịch tễ học thú y trong suốt sự nghiệp của mình. Ông khởi đầu sự nghiệp của mình bằng công trình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng động vật và là giám đốc chương trình của Tổ chức Y tế Thế giới về bệnh nang sán và bệnh ký sinh trùng khác.

Ngày 29 tháng 9 năm 2004, Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã đã tập hợp một nhóm các chuyên gia sức khỏe của người và động vật trong một hội nghị chuyên đề tại Đại học Rockefeller ở thành phố New York. Chuyên đề của hội nghị với tiêu chí “Xây dựng cầu nối liên ngành cho sức khỏe trong một “thế giới toàn cầu hóa”, “thảo luận về mô hình chuyện động của các bệnh ở người, vật nuôi và động vật hoang dã. Hội nghị chuyên đề thiết lập 12 ưu tiên để chống lại các mối đe dọa đối với sức khỏe con người và động vật. Các ưu tiên, được gọi là “Nguyên tắc Manhattan” kêu gọi một cách tiếp cận liên ngành quốc tế để ngăn chặn bệnh tật và hình thành cơ sở của khái niệm “Một sức khỏe, một thế giới”.

Năm 2009: Văn phòng Một sức khỏe được thành lập tại CDC: Trong năm 2009, Lonnie King, sau đó là Giám đốc Trung tâm quốc gia CDC về động vật, vật truyền (Véc tơ Borne) và các bệnh đường ruột, đề xuất thành lập Văn phòng “Một sức khỏe”. Văn phòng đã được xây dựng như một điểm liên lạc cho các tổ chức sức khỏe động vật bên ngoài và để tối đa hóa cơ hội tài trợ bên ngoài. Kể từ thời điểm đó, vại trò của Văn phòng “Một sức khỏe” đã mở rộng, bao gồm hỗ trợ nghiên cứu cho y tế công cộng, làm tăng thêm các khái niệm “Một sức khỏe”, tạo điều kiện cho việc trao đổi dữ liệu và thông tin giữa các nhà nghiên cứu trên toàn ngành và lĩnh vực.

Cũng năm 2009: USAID thiết lập chương trình “Các mối đe dọa từ dịch bệnh mới nổi”:Trong năm 2009, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ ( USAID) đưa ra các chương trình liên quan đến mối đe dọa từ các dịch bệnh mới nổi (EPT) . Mục đích của chương trình là đề đảm bảo sự phối hợp. Nỗ lực quốc tế toàn diện để ngăn chặn sự xuất hiện của các bệnh có nguồn gốc động vật có thể đe dọa sức khỏe con người. Chương trình EPT do các nhà chuyên môn từ khắp nơi trên các lĩnh vực chăn nuôi và sức khỏe con người nhằm xây dựng năng lực “Một sức khỏe” từ cấp quốc gia, khu vực và địa phương để phát hiện bệnh sớm, chẩn đoán bệnh trong phòng thí nghiệm dựa trên các loại phản ứng nhanh, ngăn chặn bệnh, và giảm thểu rủi ro.

Năm 2010: Tuyên bố Hà Nội, trong đó đề nghị thực hiện rộng rãi Một sức khỏe, được nhất trí thông qua: có tổng cộng 71 quốc gia và tổ chức khu vực, cùng với đại diện của các tổ chức quốc tế, các ngân hàng phát triển và các bên liên quan khác, đã tham gia dự

Hội nghị Bộ trưởng quốc tế về cúm gia cầm và đại dịch cúm ở Hà Nội, Việt Nam. Với kinh nghiệm của đại dịch H1N1 và cúm gia cầm H5N1, Hội nghị khẳng định sự cần thiết chú ý nhiều hơn đến mối liên hệ giữa sức khỏe con người, động vật nuôi và động vật hoang dã để giải quyết các mối đe dọa xảy ra khi có sự tương tác giữa động vật, con người, và hệ sinh thái. Hội nghị đã nhất trí thông qua “the declaration of Hanoi”(Tuyên Bố Hà Nội), kêu gọi hành động tập trung vào sức khỏe con người – động vật – hệ sinh thái và đề nghị thực hiện rộng rãi các khuyến nghị của “Một sức khỏe”.

Các bên liên quan tham gia vào Một sức khỏe

Ở nhiều nước, CDC làm việc với chính quyền địa phương và quốc gia cũng như các nhà nghiên cứu về sức khỏe con người, sức khỏe động vật, sức khỏe động vật hoang dã, sức khỏe môi trường, các nhà hoạch định chích sách …

CDC cũng làm việc với các tổ chức quốc tế, bao gồm:

* Tổ chức Y tế thế giới (WHO)

* Tổ chức Thú Y Thế giới (OIE)

* Tổ chức nông lương của Liên Hiệp Quốc (FAO)

Tại Việt Nam các bên liên quan tham gia vào “Một sức khỏe” cũng mang tính chất đa ngành: Y tế, thú y – nông nghiệp, kinh tế, giáo dục, môi trường…

2. MỘT SỐ NĂNG LỰC CƠ BẢN ỨNG DỤNG TRONG CÁCH TIẾP CẬN MỘT SỨC KHỎE

Năng lực cốt lõi của một sức khỏe (The One Haelth Core Competency (OHCC)) là kiến thức, kỹ năng, hành vi mà mọi thành viên trong đội ngũ Một sức khỏe cần có được. Các năng lực cốt lõi được tập hợp thành Danh mục cho từng lĩnh vực và nó được xác định theo các cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia sử dụng phương thức tiếp cận cùng tham gia, dựa trên các nhu cầu thể chế của mỗi nước. Bảng dưới đây tóm tắt các năng lực cốt lõi đã được phát triển và ghi nhận bởi các chuyên gia từ các trường đại học trong mạng lưới “Một sức khỏe” của khu vực Đông Nam Á.

Sáng kiến Năng lực cốt lõi của một sức khỏe (One Haelth Core Competency (OHCC)) với sự tham gia của các tổ chức đối tác của Hoa Kỳ, hệ thống các trường đại học của một sức khỏe tại Đông Nam Á(SEAOHUN), và mạng lưới một sức khỏe của các trường đại học tại Đông Phi (OHCEA) trong việc xây dựng một khuôn khổ năng lực cốt lõi (One Haelth Core Competency (OHCC)) bao gồm ba cấp của chương trình và giáo trình phát triển:

 

Bảng 1.1: Năng lực cốt lõi Một sức khỏe tại các nước Đông Nam Á

Lĩnh vực tăng cường Năng lực” Một sức khỏe” tại mỗi quốc gia: Kết quả Hội thảo tháng 07/2012 của các trường đại học thuộc Đông Nam Á về các năng lực cốt lõi của “Một sức khỏe” SEAOHUN Tháng 10/2010
Malaysia Indonesia Thái Lan Việt Nam
Quản lý Quản lý Kế hoạch và Quản lý Kế hoạch và Quản lý Quản lý
Văn hóa và tín ngưỡng Văn hóa và tín ngưỡng Văn hóa và đạo đức Văn hóa và tín ngưỡng Văn hóa và tín ngưỡng
Lãnh đạo Lãnh đạo Lãnh đạo Lãnh đạo Lãnh đạo
Hợp tác và đối tác Phối hợp Hợp tác và đối tác Hợp tác và đối tác Hợp tác và đối tác
Tư duy hệ thống Tư duy hệ thống Tư duy hệ thống Tư duy hệ thống Tư duy hệ thống
Kiến thức một sức khỏe Chính sách, vận động chính sách Truyền Thông và Thông Tin
Truyền Thông và Thông Tin Giá trị và Đạo đức
Giá trị và Đạo đức

Sáng kiến Năng lực cốt lõi của “Một sức khỏe “(One Haelth Core Competency (OHCC) với sự tham gia của các tổ chức đối tác của Hoa Kỳ, hệ thống các trường đại học của một sức khỏe tại Đông Nam Á (SEAOHUN) và mạng lưới một sức khỏe của các trường đại học tại Đông Phi (OHCEA) trong việc xây dựng một khuôn khổ năng lực cốt lõi (One Haelth Core Competency (OHCC)) bao gồm ba cấp của chương trình và giáo trình phát triển:

(i) Năng lực cấp quốc gia để tạo điều kiện phát triển chương trình giảng dạy để đáp ứng nhu cầu của các tổ chức và các chương trình trong một quốc gia cụ thể,

(ii) Năng lực cấp khu vực để tạo điều kiện phối hợp phát triển chương trình giảng dạy trong một mạng lưới khu vực như SEAOHUN hoặc OHCEA

(iii) Năng lực cấp toàn cầu để tạo điều kiện chia sẻ phát triển chương trình giảng dạy qua các biên giới khu vực và mạng lưới.

Năng lực cốt lõi được xác định là kiến thức, hành vi và thái độ cần thiết cho mỗi thành viên của nhóm một sức khỏe cho công tác phòng chống, giám sát, hoặc đáp ứng, bao gồm các lĩnh vực sau:

  • Quản lý
  • Văn hóa tín ngưỡng
  • Lãnh đạo
  • Niềm tin, giá trị và đạo đức
  • Hợp tác và quan hệ đối tác
  • Truyền thông và công nghệ thông tin
  • Tư duy hệ thống
  • Chính sách, và vận động chính sách

Giới thiệu các năng lực trong một sức khỏe (Chi tiết)

  • Quản lý (Management)

 Quản lý là khả năng lập kế hoạch, thiết kế, thực hiện, giám sát và đánh giá các chương trình hợp tác liên ngành, đa lĩnh vực để tối đa hóa hiệu quả của hoạt động và kết quả mong đợi của các chương trình một sức khỏe.

Một số năng lực cơ bản:

            + Quản lý: Năng lực lập kế hoạch

(i). Đánh giá các nguồn lực cần thiết để đảm bảo vai trò và trách nhiệm của mình trong việc quản lý một can thiệp một sức khỏe (phòng ngừa, giám sát, hoặc dịch)

(ii). Đóng góp vào xây dựng kế hoạch liên ngành

+ Quản lý: năng lực thiết kế

  • Phát triển các sáng kiến giám sát các bệnh lây truyền từ động vật sang người
  • Hiểu vai trò và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong một nhóm làm việc một sức khỏe
  • Xây dựng các đề cương kế hoạch hoạt động và quản lý nhóm
  • Phát triển các kế hoạch và các chương trình đối phó với dịch
  • Phân loại các vấn đề một sức khỏe theo thứ tự ưu tiên
  • Xây đựng các mục tiêu hướng đến một sức khỏe

+ Quản lý: năng lực triển khai/ thực hiện

Đề xuất cách quản lý sử dụng hiệu quả thời gian và nguồn lực của nhóm một sức khỏe

Ưu tiên các nhiệm vụ trong vai trò trách nhiệm của chính mình trong một liên ngành có quan hệ đến Một sức khỏe

Kỹ năng làm việc nhóm để đối phó với các trường hợp xảy ra khi các nguồn tài nguyên dự đoán không có sẵn hoặc tình hình đã thay đổi.

Xác định được các số liệu để hỗ trợ việc đánh giá các nỗ lực đối phó với một mối đe dọa của bệnh lây truyền từ động vật sang người.

         Văn hóa và niềm tin (Cultture and Beliefs)

– Văn hóa và Niềm Tin là khả năng thấu hiểu, phân tích, và đánh giá sự đa dạng về chuẩn mực xã hội, các vai trò và thực hành của các cá nhân, các cộng đồng và các tổ chức tác động đến kết quả dự định của từng địa phương.

(i). Có khẳ năng để xác định và giải thích về những nét chính trong văn hóa, tín ngưỡng và quy tắc chung của từng địa phương.

            (ii). Hiểu rõ các giá trị khác biệt trong các nền văn hóa trong cộng đồng địa phuơng và toàn cầu

            (iii). Tương tác được với các thành viên trong nhóm có nguồn gốc khác nhau (nền văn hóa khác nhau, các ngành khác nhau…) trong quá trình đối phó với dịch.

(iv). Tối ưu hóa đa dạng văn hóa trong xây dựng đỗi ngũ và mạng lưới.

– Các năng lực cần có: hệ thống niềm tin

(i). Tạo niềm tin trong cộng đồng trong chương trình một sức khỏe

(ii). Phân biệt giữa các hệ thống niềm tin hiện có khác nhau và thực hành tâm linh giữa các nhóm dân tộc khác nhau ở những vùng có dịch

(iii). Có được và sử dụng kiến thức về các nguyên tắc đa dạng để xác định ý tưởng chung và niềm tin của những người liên quan trong việc đáp ứng một ổ dịch

(iv). Điều chỉnh cách quản lý bệnh thích hợp cho các nền văn hóa, tín ngưỡng, và thực hành khác nhau

  • Lãnh đạo (Leadership)

Lãnh đạo  là Khả năng xây dựng tầm nhìn mang tính liên ngành, các giải pháp hợp tác tiên phong bằng cách ra quyết định quan trọng, có chiến lược và cam kết góp phần thúc đẩy phương pháp tiếp cận liên ngành để giải quyết các thách thức “Một sức khỏe”.

Các kỹ năng cần đạt được:

(i). Mô tả các điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và mối đe dọa của những thách thức OH

(ii). Xây dựng một kế hoặch liên ngành giữa các ngành trong một sức khỏe

(iii). Thực hiện các dự án thúc đẩy một mô hình của một sức khỏe

(iv). Đánh giá thực hiện dự án, nhóm thực hiện, kết quả và tác động để cải thiện liên tục

Lãnh đạo: Vận động chính sách

Chứng tỏ khả năng giao tiếp với các nhà hoạch định chính sách liên quan đến những thách thức một sức khỏe.

  • Gía trị đạo đức (Values anh Ethics)

Giá trị đạo đức là Khả năng xác đinh và đáp ứng với các vấn đề của một sức khỏe ở nhiều cấp độ với tính chính trực, trung thực, tin cậy, công bằng, trách nhiệm, khả năng thích ứng trong các môi trường khác nhau.

Giá trị và đạo đức: nghề nghiệp

            * Cư sử một cách trung thực, công bằng và đạo đức

* Sử dụng các tiêu chuẩn nghề nghiệp và xây dựng các thủ tục, chính sách, pháp luật

* Chứng minh về tính cởi mở để có thay đổi ý tưởng của một người khác và nhận thức được nó

Giá trị và đạo đức: Trong làm việc nhóm

* Tích cực hỗ trợ các thành viên khác, cho thấy sự sẵn sàng chia sẻ về kỹ năng, kiến thức, chuyên môn, và thời gian

* Nuôi dưỡng một môi trường tin cậy, toàn vẹn, và trách nhiệm trong một nhóm. Xác định các xung đột và các vấn đề cơ bản và có những hành động thích hợp.

 Giá trị và đạo đức: Tổ chức

* Xây dựng quy trình tiêu chuẩn để bảo vệ toàn vẹn và trách nhiệm của một tổ chức

* Xác định, giao tiếp, và tiêu biểu cho giá trị và đạo đức của một tổ chức

            Hợp tác và quan hệ đối tác (collaboration and Partnership)

 Hợp tác và quan hệ đối tác là khả năng thúc đẩy và duy trì sự hợp tác hiệu quả giữa các cá nhân, các bên liên quan, cộng đồng để có thể làm việc hiệu quả trong các sáng kiến vì một sức khỏe.

Các kỹ năng cần đạt được là:

* Phát triển hoặc thiết lập sự hợp tác, đối tác, và kết nối các mạng lưới

* Xây dựng chiến lược để hài hòa hợp tác và đối tác trên toàn ngành

* Xây dựng quy trình để duy trì và tăng cường hợp tác hiệu quả cao và quan hệ đối tác liên ngành

            Truyền thông và thông tin (Communication and Informatics)

Truyền thông và thông tin là khả năng tiếp thu, xử lý, tổng hợp, chia sẻ và trao đổi thông tin có hiệu quả giữa các ngành và lĩnh vực để thiết lập, tăng cường và thúc đẩy chương trình hành động vì Một sức khỏe.

Công nghệ thông tin: Quản lý hiệu quả và chia sẻ thông tin một cách hiệu quả giữa các ngành với nhau và giữa các lĩnh vực với nhau ..

* Kỹ năng thực hành giao tiếp chủ động (nói, nghe, viết)

* Phổ biến và điều chỉnh các tài liệu truyền thông (IEC) (thông tin, giáo dục. truyền thông) đến các cấp độ

* Áp dụng phương pháp tiếp cận phương tiện truyền thông khác nhau

Công nghệ thông tin: Hiệu quả quản lý thông tin/ dữ liệu về định tính và định lượng

* Tổ chức quản lý hiệu quả các dữ liệu (thu thập, phân tích, và kết luận)

* Xác định và phân tích các bài học kinh nghiệm

* Sử dụng phương pháp công nghệ thông tin cơ bản và chứng minh quyết tâm học hỏi những phương pháp mới

           Tư duy hệ thống (Systems Thinking)

Tư duy hệ thống là khả năng phân tích làm nổi bật được các yếu tố khác nhau có ảnh hưởng và tương tác lẫn nhau trong một tổng thể. Phân tích và thấu hiểu sự phụ thuộc tự nhiên không ngừng giữa con người, động vật, môi trường và hệ sinh thái; hiểu rõ những phụ thuộc này ảnh hưởng như thế nào đến mối quan hệ giữa các cá thể, các nhóm, các tổ chức và cộng đồng.

Tư duy hệ thống: Hệ thống các yếu tố và sự chuyển động qua các bộ phận:

* Xác định các yếu tố của hệ thống một sức khỏe (động vật, con người và môi trường)

*. Hiểu và tích hợp hệ thống tư duy giữa các nhóm/ bên khác nhau (các mạng lưới xã hội, các tổ chức, chính phủ, cộng đồng và hệ sinh thái)

* Nhận ra việc làm thế nào mà tất cả các yếu tố trong một hệ thốngmột sức khỏe được kết nối, phát triển, và chuyển giao.

Tư duy hệ thống: Hệ thống đánh giá, phản hồi, và cải thiện

* Đánh giá điểm mạnh và điểm yếu trong việc áp dụng một cách tiếp cận tư duy hệ thống cho các vấn đề hoặc hệ thống của một sức khỏe.

* Phân tích những thay đổi ảnh hưởng đến hệ thống OH (đầu vào, quá trình, kết quả, thành công/ thất bại)

            Chính sách và vận động chính sách (policy and advocacy)

Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và phương pháp thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế – văn hóa – xã hội – môi trường.

Chính sách về y tế là là tập hợp các chủ trương và hành động của chính phủ nhằm chăm sóc sức khỏe cho người dân một cách tốt nhất

Để xây dựng được các chính sách phải có các năng lực:

– Xác định đối tượng hưởng thụ chính sách

– Đối tượng khuyến khích/ hạn chế

– Các chủ trương và giải pháp thực hiện

– Xác định được mục đính của chính sách

Để ban hành chính sách:

– Dự báo phản ứng của xã hội (của những đối tượng hưởng thụ chính sách)

– Phải đảm bảo điều kiện và đủ để thực hiện chính sách

– Lựa chọn hoàn cảnh để ban hành chính sách.

Các chính sách liên quan đến một sức khỏe, mang tính chất liên ngành vì thế nó được xây dựng dựa trên thực trạng và định hướng của mỗi ngành và liên ngành.

Vận động chính sách (advocacy): Vận động chính sách là việc tuyên truyền, giải thích, động viên những người nghiên cứu, soạn thảo và ban hành các chính sách tự nguyện xây dựng các chính sách theo nguyện vọng chính đáng của người vận động.

 

Tác giả: Trịnh Đình Thâu

 Nguồn tin: Học viện  Nông Nghiệp Việt Nam

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ