Kỹ thuật chăn nuôi dê chất lượng cao

I. Giới thiệu tổng quan

1. Phạm vi áp dụng

Mô hình áp dụng cho các hộ chăn nuôi dê thịt phù hợp với quy hoạch chăn nuôi của địa phương và có thể cung cấp đủ nguồn thức ăn.

2. Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng trên giống dê chuyên thịt.

3. Đặc điểm, đặc tính

Sử dụng 3 giống dê chính trong chăn nuôi dê thịt chất lượng cao:

3.1. Dê Bách Thảo

– Nguồn gốc: Việt Nam

– Có khả năng thích nghi cao với điện kiện khí hậu, có đặc điểm sinh trưởng và phát triển nhanh, dễ nuôi, chịu được nhiệt độ cao, nắng nóng.

– Khả năng sinh sản: dê cái đẻ lứa đầu khi 15 tháng tuổi, số con khoảng 1,6 con/lứa và số lứa đẻ trong năm khoảng 1,6 lứa/năm.

– Khối lượng cơ thể trưởng thành ở con đực nặng từ 75 – 80kg/con, cao khoảng 85-90 cm, còn con cái có trọng lượng từ 40 – 45 kg, cao 65 – 70 cm, trọng lượng con sơ sinh khoảng từ 1,9  – 2,5 kg/con, dê 3 tháng tuổi (lúc cai sữa) nặng 10 – 12 kg, dê 6 tháng tuổi (lúc giết thịt) nặng 17 – 20 kg.

– Tỷ lệ thịt xẻ khoảng 40 – 45%

– Nguồn thức ăn chính là lá cây, cỏ và phụ phẩm nông nghiệp.

3.2. Dê Boer

– Nguồn gốc : có nguồn gốc từ Mỹ

– Khả năng sinh sản: dê cái đẻ lứa đầu khi 20 tháng tuổi, trung bình dê boer đẻ 1,65 con/lứa và đẻ khoảng 1,1 lứa/năm.

– Khối lượng khi trưởng thành: đối với dê cái từ 70kg đến 80kg và 80kg đến 100kg đối với dê đực, trọng lượng sơ sinh từ 2 – 3,5 kg. Tăng trưởng bình quân từ 150 – 200 g/con/ ngày. Chất lượng thịt tốt, cholesterol thấp, protein cao, thịt mềm, thơm.

– Nguồn thức ăn chính là lá cây, cỏ và phụ phẩm nông nghiệp.

3.3. Dê lai F1 (Boer x Bách Thảo)

– Nguồn gốc: Đực Boer phối với cái Bách Thảo

– Khả năng sinh sản: trung bình dê lai F1 (Boer x Bách Thảo) đẻ 1,5 con/lứa và sinh sản 1,4 lứa/năm.

– Khối lượng từ 8 tháng đến 10 tháng tuổi đạt từ 40kg đến 45kg.

– Tỷ lệ thịt xẻ: 50%.

4. Các yêu cầu của mô hình

– Giống dê là dê thuần (Bách Thảo thuần, Boer thuần), dê lai hướng thịt (Boer x Bách Thảo) có năng suất và chất lượng cao hơn so với dê địa phương (dê cỏ, dê lai giữa dê Bách Thảo và dê cỏ).

– Chuồng dê phải đảm bảo sạch sẽ, thoáng mát vào mùa hè, ấp áp vào mùa đông, sàn chuồng cách mặt đất 50 – 80 cm; nên làm chuồng ở nơi dễ thoát nước và có bóng cây. Sàn chuồng có thể được làm bằng gỗ, tre phẳng hoặc thép, chắc có khe rộng 1,5 – 2 cm để tránh cho dê không bị kẹt chân và đủ lọt phân.

– Mái chuồng phải chắc chắn, có độ cao vừa phải, có độ dốc đễ dễ thoát nước và cách thành chuồng ít nhất 60 cm để tránh mưa hắt hay ánh nắng chiếu trực tiếp.

Nền chuồng nên được lắng bằng lớp xi măng hoặc đất nện chắc; có độ dốc khoảng 30 – 35% để thuận tiện cho việc về sinh chuồng trại.

– Mật độ nuôi: dê dưới 6 tháng tuổi từ 0,3 – 0,5 m2/con; dê trên 6 tháng tuổi từ 0,7 – 1 m2/con.

– Phương thức nuôi là nuôi nhốt hoặc bán chăn thả nên năng suất và an toàn sinh học cao hơn so với phương thức cũ.

– Trồng thâm canh các loại cây thức ăn sẽ có nguồn thức ăn thô ổn định hơn, có giá trị dinh dưỡng cao hơn so với cây cỏ tự nhiên.

5. Tổng quan về mô hình trên thế giới, ở Việt Nam và tại TPHCM

Trên thế giới hiện nay có khoảng 95% trong tổng số 765 triệu con dê trên Thế giới được nuôi ở các nước đang phát triển và mang lại thu nhập có ý nghĩa cho người dân. Ở châu Á, nước nuôi nhièu dê nhất là Trung Quốc (173 triệu con), sau đó là Ấn Độ (125 triệu con) và Pakistan (53 triệu con). Chăn nuôi dê tập trung ở các nước đang phát triển, nhưng chủ yếu ở khu vực nông hộ quy mô nhỏ, ở những vùng khô cằn, nông dân nghèo. Ở những nước phát triển, chăn nuôi dê có quy mô đàn lớn hơn và chăn nuôi theo phương thức thâm canh chuyên lấy thịt cho tiêu dùng trong nước hay xuất khẩu.

Theo FAO (2004), trong năm 2003 sản lượng thịt các loại của toàn thế giới đạt 249 triệu tấn, trong đó, sản lượng thịt dê đạt 4,1 triẹu tấn (chiếm 1,64%). Khu vực các nước đang phát triển là nơi sản xuất nhiều dê thịt nhất (3,9 triệu tấn, chiếm 95,4% tổng sản lượng thịt dê), trong đó tập trung chủ yếu ở các nước châu Á (3 triệu tấn, chiếm 73,42%). Nước cung cấp nhiều thịt dê nhất là Trung Quốc (1,5 triệu tấn), sau đó là Ấn Độ (0,47 triệu tấn) và Pakistan (0,37 triệu tấn).

Theo Acharya (1992) trên thế giới có khoảng 150 giống dê được phân bố khắp các châu lục. Trong đó giống dê hướng thịt chiếm 27%.

Theo S.Saithanoo (2001) cho biết dê cái 9 tháng tuổi có trọng lượng khoảng 20,5kg đối với giống dê nội của Thái Lan.

Tại Việt Nam, theo Cục Chăn nuôi thì số lượng đàn dê và sản lượng thịt dê của nước ta liên tục tăng trong những năm gần đây như năm 2013 là 1,39 triệu con, năm 2014 là 1,6 triệu con và năm 2015 là 1,77 triệu con. Đồng thời, nhu cầu thịt dê dùng làm thực phẩm cho con người của Việt Nam cũng tăng. Nên sản lượng thịt dê cung cấp trong nước năm 2013 là 19.221 tấn, năm 2014 là 18.056 tấn và năm 2015 là 19.950 tấn đã không đáp ứng đủ nhu cầu đó. Theo Tổng cục Hải quan thì trong 10 tháng năm 2014 Việt Nam đã nhập 816 tấn thịt dê cừu, trị giá 5,6 triệu USD và năm 2015 nhập khẩu 890 tấn thịt trị giá 5,7 triệu USD. Việc nhập khẩu thịt dê trong những năm qua đã cho thấy tìm năng và cơ hội phát triển chăn nuôi dê để cung cấp cho nhu cầu nội địa là rất lớn.

Trong quy hoạch phát triển và chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp của TP HCM thì ngành chăn nuôi được tập trung chuyển đổi nhằm tăng tỷ trọng trong nông nghiệp. Nên việc phát triển mô hình chăn nuôi dê lai trên vùng đất cát và vùng ven biển là phù hợp vì dê có thể ăn được nhiều loại thức ăn như lá cây cỏ nghèo dinh dưỡng, chịu đựng cam khổ, khí hậu nóng ẩm; dê có hiệu suất sử dụng thức ăn cao; khả năng tái sinh đồng cỏ nhanh nếu dê ăn do tập tính của dê ăn trên cao; dê có vốn đầu tư ít, chuồng trại đơn giản thức ăn có sẵn trong tự nhiên.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai (2000), cho rằng mức độ cải tiến về trọng lượng của dê lai Alpine x Bách thảo và Bách thảo x (Alpine x Bách thảo) ở giai đoạn từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi là 41,66 – 50,00% so với dê Bách thảo. Ưu thế lai của dê (Alpine x Bách thảo) cao nhất là lúc 9 tháng tuổi (31,20%) và thấp nhất lúc 24 tháng tuổi (5,60%) và dê lai Bách thảo x (Alpine x Bách thảo) cao nhất là lúc 3 tháng tuổi (7,30%) và thấp nhất là lúc 6 tháng tuổi (1,40%).

Con lai giữa giống Alpine, Saanen với Bách thảo cho trọng lượng cao hơn dê Bách thảo thuần từ 5 – 20% qua các giai đoạn tuổi, trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng như nhau (Đậu Văn Hải, 2001). Lê Văn Thông (2005) cho rằng,  dê lai F1 giữa giống Bách thảo với dê cỏ thể hiện ưu thế lai rõ rệt về tầm vóc, khối lượng, khả năng sinh trưởng cao hơn dê cỏ. Khối lượng dê lai F1 bằng 128,58% so với dê cỏ và bằng 82,65% dê Bách thảo.

         Theo kết quả nghiên cứu  của Đậu Văn Hải và cs, (1999) cho thấy, hai giống Jumnapari và Barbari có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, khối lượng trưởng thành Jumnapari là 44 kg và Barbari 33 kg, tương đương với dê nuôi tại Ấn Độ cùng lứa tuổi. Tăng khối lượng của dê con từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi đạt 75,56 gam/con/ngày đối với Jumnapari và 71,11 gam/con/ngày đối với Barbari.

  Một nghiên cứu khác của Lê Văn Thông (2005) cho biết đối với dê cỏ trọng lượng dê đực ở 9 tháng tuổi trung bình là 21 kg và ở dê cái là 17,6 kg kết quả này cao hơn so với kết quả của Nguyễn Đình Minh (2002), ở giai đoạn 9 tháng tuổi dê cỏ nuôi tại Thái Nguyên có trọng lượng trung bình thấp hơn tương ứng ở dê đực là 5,04 kg và dê cái là 4,47 kg.

Cũng trong nghiên cứu của Lê Văn Thông (2005) cho thấy dê bách thảo giai đoạn 9 tháng tuổi có trọng lượng dê đực là 32,55 kg và dê cái là 27,78 kg. Đối với con lai F1 (bách thảo x cỏ) thời điểm 9 tháng tuổi trọng lượng dê đực cái có khối lượng tương ứng 27,06 kg và 22,81 kg.

6. Nguồn gốc, xuất xứ của mô hình

Nguồn gốc xuất sứ của mô hình dựa trên kết quả của 02 đề tài cấp Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn “Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống dê lai sữa, thịt phù hợp với điều kiện Việt Nam” do TS. Đinh Văn Bình và TS. Nguyễn Ngọc Anh làm chủ nhiệm (2006 – 2010) ,  “Nghiên cứu phát triển nguồn thức ăn chăn nuôi (thô xanh, phụ phẩm nông nghiệp) có năng suất chất lượng cao phù hợp với vùng sinh thái Việt Nam” do TS. Nguyễn Thị Mùi và TS. Nguyễn Văn Quang làm chủ nhiệm (2006 – 2010). Và 1 đề tài cấp của Đậu Văn Hải (2006) “ Khả năng sản xuất của dê lai hướng thịt giữa giống Boer và Bách Thảo”

II. Quy trình kỹ thuật

1. Chuẩn bị, xây dựng mô hình

Vật liệu làm chuồng

Do đặc điểm cấu trúc chuồng dê đơn giản cho nên vật liệu làm chuồng chủ yếu các vật liệu có sẳn tại địa phương, dễ kiếm và rẻ tiền:Gỗ tận dụng, tre, tầm vông, thân cây dừa, thân cây cau… Các loại lá tranh, dừa nước, ngói… đều có thể làm nguyên liệu lợp mái.

Các kiểu chuồng

Chuồng dê có thể phân ra thành các loại như sau:

– Chuồng riêng rẻ (Chuồng đơn).

– Chuồng sàn có chia ngăn.

– Chuồng sàn không chia ngăn.

– Chuồng trệt  không chia ngăn.

– Chuồng nhốt chung trong một khu rào.

Hiện nay ở nước ta 2 dạng chuồng phổ biến nhất là Chuồng sàn có chia ngăn và Chuồng sàn không chia ngăn. Chuồng sàn có chia ngăn áp dụng đối với dê nuôi lấy sữa còn chuồng sàn không chia ngăn chủ yếu dùng cho nuôi dê thịt.Chuồng sàn có chia ngăn. Kiểu chuồng này có thể chia theo nhóm dê như vắt sữa, chữa, khô, hậu bị và dê con.

Các chi tiết chuồng như sau:

Sàn chuồng: Là nơi đi lại sinh hoạt của dê hàng ngày cho nên cần phải làm bằng vật liệu cứng bền như gỗ, sàn cao so với mặt đất khoảng 40 – 60cm. Các thanh lót chuồng đều nhẵn và thẳng, có khe hở rộng 1,5 – 2cm bảo đảm cho phân lọt qua dễ dàng song không rộng quá làm kẹt chân dê, nhất là dê con.

Chuồng sàn chia ngăn theo cá thể kích thước mỗi ô cần dài: 1,5 – 1,6m rộng 0,8 – 1m, cao 1,5 – 2m.

Vách ngăn và cửa:

Vách ngăn mục đích là cầm giữ dê ở một vị trí nhất định, vật liệu làm vách cũng giống như vật liệu làm sàn: gỗ, tre, tầm vông. Kích thước giữa các thang vách cách nhau 8 – 12cm, có độ cao từ mặt sàn lên 1,2 – 1,4m. Ngăn nuôi dê đực cần được làm chắc chắn hơn.

Cửa chuồng: 

Chuồng sàn chia ngăn cửa không cần rộng chỉ đủ cho dê ra vào dễ dàng khoảng 35-40cm, cao 1m, cửa nên làm chắc chắn và dễ thao tác.

Mái lợp:

Tùy theo kiểu chuồng trại và qui mô đàn có thể lợp 1 mái, 2 mái; mái ngắn hoặc mái dài. Vật liệu lợp mái tùy theo địa phương.

Nền đất:

Nền đất phía dưới sàn chuồng làm cao hơn bề mặt tự nhiên 0,3m, nền nên nện chặt nếu có điều kiện nên làm bằng xi măng hoặc gạch tàu.

Máng ăn và máng uống:

Máng thức ăn thô được treo bên ngoài vách ngăn cao vừa tầm cho từng loại dê khoảng 30 – 50cm có chổ đủ cho dê đưa đầu ra ngoài dễ dàng.Kích thước máng đáy 20 – 30cm, thành ngoài 30 – 40cm, thành trong 20 – 30cm và chiều dài tùy thuộc vào kiểu chuồng.

Máng thức ăn tinh: dùng bằng gỗ ván hoặc xô chậu loại chắc chắn để dê không phá phách.Máng uống: Nguồn nước uống có thể cung cấp trong ô chuồng (bằng xô, chậu) gắn chặt vào vách. Hoặc có thể dùng 1 cái lu để ở sân vận động cho dê uống.

Chuồng sàn không chia ngăn:

Kiểu chuồng này được phổ biến ở phương thức nuôi chăn thả đặc biệt đối với dê thịt. Loại này vách ngăn ít tốn kém hơn và chỉ cần cửa rộng cho toàn bộ đàn dê ra vào dễ dàng. Máng ăn có thể đặt chạy dài theo mái lợp. Nước uống có thể đặt ở cửa và sân chơi.

Kiểu chuồng này có thể áp dụng đối với dê sữa nuôi nhốt bằng các sợi dây cố định ở mỗi con. Tuy nhiên loại chuồng này cũng cần có ngăn riêng cho những dê con mới sinh, hoặc phải có chuồng úm để tránh hao hụt đối với dê con.

Chuồng úm dê con:

Ðể tăng cường sức khỏe và tỷ lệ nuôi sống cần có chuồng úm dê con, chuồng úm dê con cần phải sạch sẽ, ấm khi trời lạnh, mát khi thời tiết nóng.Kích thước chuồng úm dài 0.8 – 1.2m, rộng 0.6 – 0.8m, cao 0.6 – 0.8m. Quanh chuồng úm có thể làm rèm che chắn cho dê con, chuồng úm chủ yếu sử dụng cho dê mới sinh.

2. Quy trình hoạt động của mô hình

Thói quen ăn uống và thức ăn của dê

Dê rất tò mò so với các thú nhai lại khác nên chúng có thể đi một khoảng xa để tìm thức ăn. Thêm vào đó chúng có thể ăn được rất nhiều chủng loại thực vật chủ yếu là lá các loại cây gỗ, cây bụi và cỏ hầu đáp ứng các nhu cầu dưỡng chất cho cơ thể.

Nhờ vào các đặc tính này mà dê thích nghi rộng rãi từ các vùng ôn đới đến vùng bán khô hạn và vùng nhiệt đới có ẩm độ cao. Chúng có thể ăn nhiều loại thực vật mà trâu bò không ăn được. Tuy nhiên dê cũng khó tính trong tập quán ăn uống, trái với nhận định của nhiều người.

Một số dê có thể ăn một số loại thức ăn nhưng không được một số con khác chấp nhận và chúng từ chối tất cả các thức ăn đã bị thú khác giẫm lên.Hơn nữa, dê có thể phân biệt các vị đắng, ngọt, mặn, chua và có sức chịu đựng cao các thức ăn đắng hơn bò. Dê rất thích ăn nhiều loại thức ăn nên chúng không phát triển tốt với một loại thức ăn đơn độc trong một thời gian dài.

Chúng thích chọn lựa một hỗn hợp gồm cỏ, lá cây bụi và cây gỗ. Dê thích gậm ở phần mầm và lá cây đang tăng trưởng và thường bỏ phần cọng. Ngay trên cùng một loại cây, nhưng có lúc chúng thích ăn có lúc không. Yếu tố quan trọng trong sự lựa chọn của dê là sự sẵn có của các chủng loại thức ăn này.

Nhờ sự linh hoạt của môi trên và miệng nhỏ nên dê có thể lựa chọn được lá non của nhiều loại cây cỏ để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cao trong một số giai đọan sản xuất như đang cho sữa. Nhiều quan sát cho thấy 80 – 83% lượng thức ăn ăn vào của dê là đọt và lá non do cấu trúc bộ tiêu hóa và nhu cầu dinh dưỡng của dê như phần trên đã đề cập.

Tuy nhiên trong điều kiện khó khăn, dê vẫn có thể sử dụng các thức ăn thô hay phó sản như rơm, thân cây bắp… được thái nhỏ cho vào các máng ăn để cao, ngang tầm với lồng ngực của dê. Một số giống cỏ cho dê. Có thể trồng một số giống cỏ để nuôi dê. Nhìn chung dê thích ăn các loại cỏ có lá ít nhám như thích ăn cỏ xả (Panicum maximum), cỏ pangola (Digitarìa decumbens) hơn là cỏ voi (Pennisetum purpureum).

Dê là vật nuôi dễ thích nghi với điều kiện ngoại cảnh, tuy nhiên khả năng sản xuất của chúng phụ thuộc rất lớn vào môi trường sống trong đó có yếu tố chuồng trại, đặc biệt đối với các giống cao sản.Chuồng trại dê so với các chuồng của các vật nuôi khác thì đơn giản và rẻ tiền hơn. Tuy nhiên cũng cần phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật sau đây:

– Giảm được sự bất lợi của thời tiết.

– Tránh rủi ro do trộm cắp.

– Quản lý và đo lường được năng suất chăn nuôi.

-Tránh phiền phức cho xã hội do dê phá phách.

Sự Sinh trưởng và phát triển của dê

Giống như các loại gia súc khác sự sinh trưởng và phát triển của dê tuân theo quy luật giai đoạn, chịu ảnh hưởng của điều kiện chă sóc nuôi dưỡng, giống và tính biệt. Khối lượng trung bình của giống dê trong chăn nuôi lấy thịt ở giai đoạn sơ sinh khoảng từ 2 – 3,5 kg, giai đoạn 3 tháng tuổi từ 9 – 12 kg, giai đoạn 6 tháng tuổi từ 15- 21 kg, giai đoạn 12 tháng tuổi từ 23 – 29 kg và giai đoạn 18 tháng tuổi từ 30 – 45 kg. Trong điều kiện bình thường dê đực có xu hướng tăng trọng nhanh hơn dê cái. Giai đoạn sơ sinh đến 3 tháng tuổi cường độ sinh trưởng tuyệt đối và tương đối là cao nhất (90 – 120 g/con/ngày và 95 – 130%), rồi tiếp theo là giai đoạn 3 – 6 và 6 – 12 tháng (70 – 110 g/ngày và 30 – 50%), giai đoạn 12 – 18 tháng cường độ sinh trưởng giảm đi dần dần (20 – 45 g/con/ngày và 10 – 20%), giai đoạn 18 – 24 tháng cường độ sinh trưởng của dê thấp xuống (20 – 30g/con/ngày), và đến giai đoạn trưởng thành, cường độ sinh trưởng thấp dần và thay đổi không rõ rệt.

Dựa trên cường độ sinh trưởng của các giống dê cùng với việc xác định sự tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng, tỷ lệ thịt và phẩm chất thịt qua một số nghiên cứu đã xác định được rằng với dê Cỏ tuổi giết thịt thích hợp nhất là vào lúc 11 – 12 tháng tuổi với khối lượng 20 – 25kg, Dê bách Thảo, Ân Độ, dê lai vào lúc 9 – 10 tháng tuổi với khối lượng 25 – 30kg.

Chọn dê nuôi thịt

Khi chọn dê để nuôi thịt cần phải xác định rõ mục đích là lấy thịt nhiều nạc hay nhiều mỡ. Tăng trọng của dê non chủ yếu là thịt nạc, ngược lại tăng trọng của dê lớn chủ yếu là mỡ. Do đó, khi muốn thu được thịt nhiều mỡ cần bán (giết dê) lấy thịt ở độ tuổi lớn hơn hay tìm cách nuôi vỗ béo dê loại trước khi giết thịt.

Để chọn lọc dê nuôi thịt, tiến hành cân dê non ở ở các độ tuổi khác nhau, chẳng hạn 3 và 6 tháng tuổi. Làm như vậy sẽ biết được tốc độ sinh trưởng của dê. Sinh trưởng của dê có thể được đánh giá theo hai cách:

  • Tốc độ tăng trọng.
  • Khối lượng tối đa có thể đạt được ở một độ tuổi nào đó (ví dụ 1,5 tuổi).

Nếu thức ăn để nuôi dê bị hạn chế thì nên chọn nuôi những dê có tốc độ sinh trưởng nhanh. Một sai lầm thường gặp phải là người chăn nuôi thường bán mất những con dề có tốc độ sinh trưởng nhanh nhất, trong khi đáng lẽ phải chọn để lại những con này để nhân giống.

Nếu thức ăn không hạn chế thì có thể có hiệu quả hơn nếu chọn những loại dê có khả năng đạt được khối lượng tối đa. Những loại dê có tốc độ tăng trọng ban đầu cao không nhất thiết là những con sẽ đạt được khối lượng giết thịt cao nhất.

Luợng mỡ tích luỹ ở dê vỗ béo tốt nhất là đánh giá trên dê đã giết mổ hơn là dê sống. Do đó, nên chọn những anh chị em gái của những con dê có kết quả vỗ béo tốt (đã giết thịt) để giữ lại làm giống.

Nuôi dưỡng chăm sóc dê sinh trưởng

Dê sinh trưởng được tính từ thời điểm cai sữa (3 tháng tuổi) đến 12 tháng tuổi. Trong giai đoạn này cần có một số vấn đề cần quan tâm như sau:

Khẩu phần ăn

+ Trong giai đoạn này nên cho dê ăn tdo các loại thức ăn để khai thác tốt nhất khả năng tăng trọng của chúng.

+ Lượng thu nhận vật chất khô (VCK) thu nhận hàng ngày đối với dê sinh trưởng khoảng 3 – 4% khối lượng cơ thể. Trong đó, 70 – 80% khối lượng khẩu phần nên là thức ăn thô xanh, thường là từ 2 – 5 kg/con/ngày tuỳ vào từng giai đoạn tuổi. Thức ăn tinh chiếm 20 – 30% khối lượng khẩu phần ăn hàng ngày còn lại, thường là từ 0,15 – 0,4 kg/con/ngày. Ví dụ, dê sinh trưởng có khối lượng là 20 kg có nhu cầu thức ăn hàng ngày sẽ là:

Lượng VCK thu nhận là:        20  x 4%     =      0,8 kg (VCK)

Lượng VCK thức ăn xanh là:  0,8  x 80%  =      0,64 kg (VCK)

Hàm lượng VCK trong các loại cỏ lá trung bình là 20%. Như vậy lượng thức ăn thô xanh thực tế là:    0,64   x 100/20 =                                                   3,2 kg/con/ngày.

Lượng thức ăn tinh là:            0,8  x 20% hoặc (0,8 – 0,64) = 0,16 kg (VCK)

Hàm lượng VCK trong các loại thức ăn tinh khoảng 85%. Như vậy lượng thức ăn tinh thực tế là:        0,16 x 100/85 =                                                   0,2 kg/con/ngày.

+ Tránh thay đổi nguồn thức ăn quá đột ngột trong quá trình nuôi dưỡng dê sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn mới tách mẹ lúc 3 – 4 tháng tuổi để tránh hiện tượng dê bỏ ăn hoặc là mắc một số các chứng bệnh đường tiêu hoá do thức ăn gây ra như tiêu chảy, chướng hơi dạ cỏ…

  • Chăn thả/vận động:

Dê cần được chăn thả vận động ít nhất là 2 – 4 giờ/ngày. Nên chăn thả dê ở những bãi chăn thả gần (<1km), tránh chăn thả ở những bãi chăn thả quá xa nơi nuôi nhốt, do trong quá trình di chuyển dê phải sử dụng nhiều năng lượng từ nguồn thức ăn thu nhận cho đi lại, như vậy nguồn năng lượng tích luỹ cho tăng trọng sẽ bị giảm đi rất nhiều. Ngoài ra, cũng cần tránh chăn thả dê trong những ngày mưa gió hoặc những ngày thời tiết qúa nắng nóng (38 – 40oC) mà bãi chăn lại không có các tán cây làm bóng mát. Đối với phương thức nuôi dê thâm canh công nghiệp cũng cần có các sân chơi để thả cho chúng vận động.

  • Chuồng trại:

Chuồng nuôi dê sinh trưởng cần được quét dọn sạch sẽ hàng ngày. Định kỳ hàng tháng khử trùng chuồng trại, máng ăn, máng uống, sân chơi để hạn chế sự lây nhiễm các mầm bệnh, đặc biệt là các loại bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá.

Trong chuồng nuôi nhốt và sân chơi của dê phải cung cấp đầy đủ và liên tục nước sạch hàng ngày. Có thể cung cấp nước cho dê bằng hệ thống van uống tự động. Nếu nước cung cấp cho dê được đựng bằng các loại xô chậu thì phải vệ sinh hàng ngày, loại bỏ nước uống ngày hôm trước đi trước khi bổ sung nước mới vào.

Thiến

Thông thường người chăn nuôi dê thích thiến những con dê nuôi lấy thịt. Tuy nhiên không nhất thiết phải thiến dê và thiến sẽ có nguy cơ gây nhiễm trùng. Nếu muốn thiến dê thì nên thiến trước 3 tháng tuổi, càng sớm càng tốt, để giảm bớt sốc cho con vật. Thậm chí có thể thiến dê ngay lúc 2 – 3 ngày tuổi.

  • Quản lý đàn

Sau 3 tháng tuổi thì nên nuôi nhốt dê đực và dê cái riêng ra ở các ô chuồng khác nhau. Đối với dê đực hoặc dê cái thì có thể nuôi nhốt nhiều con trong 1 ô chuồng rộng (4 – 5 con/ ô chuồng rộng 4 – 5m2). Khi nuôi nhốt chung cần lưu ý không nên nhốt những con có độ tuổi cách nhau quá xa hoặc nhốt con to với con bé. Cần phải treo đầy đủ máng ăn, máng uống cho dê được ăn đồng đều cùng một lúc, tránh hiện tượng những con dê to khoẻ hơn tranh giành không cho những con dê khác trong ô chuồng cùng ăn.

  • Phòng bệnh

Tiêm phòng cho dê các bệnh truyền nhiễm như: đậu dê, tụ huyết trùng, viêm ruột hoại tử, lở mồm long móng… và tẩy ký sinh trùng sau 3 tháng tuổi và định kỳ tiêm nhắc lại sau 6 tháng.

Vỗ béo dê

Nếu muốn có thịt dê béo (nhiều mỡ) thì nên vỗ béo dê trước lục giết thịt bằng cách cho ăn thêm thức ăn giàu năng lượng.

  • Tuổi và thời gian vỗ béo

Thời điểm xuất chuồng đạt hiệu quả kinh tế cao nhất trong chăn nuôi dê thịt là giai đoạn dê đạt 9 – 12 tháng tuổi.

Thời gian vỗ béo cho dê là khoảng 1 tháng trước khi xuất chuồng.

  • Khẩu phần v ỗ béo

Trong giai đoạn vỗ béo nên cho dê ăn tự do các loại thức ăn, trong đó đặc biệt chú ý tăng lượng thức ăn tinh trong khẩu phần. Nên bổ sung tăng các loại thức ăn giàu năng lượng như bột ngô, sắn lát.

Cung cấp đầy đủ và liên lục nước uống sạch cho dê.

  • Chăm sóc quản lý

Nuôi nhốt 2 – 3 con/ô chuồng rộng 4 – 5 m2.

Cách ly hoàn toàn con đực với con cái để tránh hiện tượng giao phối giữa chúng khi con cái động dục.

Hạn chế cho dê đi chă thả xa, chỉ nên cho chúng vận động nhẹ nhàng ở sân chơi hoặc các bãi chăn thả gần.

Vị trí

Do đặc tính dê thích sống nơi cao ráo, thoáng mát do vậy vị trí chuồng trại phải đáp ứng các yêu cầu trên. Hướng chuồng nên chọn hướng đông và đông nam.
Tùy điều kiện đất đai, bãi chăn thả, qui mô đàn để chọn và định vị trí chuồng trại. Tuy nhiên chuồng không nên quá gần nhà nhưng cũng không nên quá xa khó chăm sóc và quản lý.

Phòng và trị bệnh

– Phòng bệnh: định kỳ 6 tháng tiêm phòng các loại vacxin tụ huyết trùng .. và tẩy giun sán cho dê/1 lần.

– Hàng ngày kiểm tra 2 lần trước khi chăn thả và sau khi về chuồng phát hiện những con dê bỏ ăn, đau ốm, loét miệng, chướng bụng đầu hơi để kịp thời trị bệnh.

III. Đánh giá chất lượng sản phẩm, chất lượng công nghệ của mô hình

– Sản phẩm sản xuất ra đạt mức tiêu chuẩn chất lượng nào, có ưu thế hay khả năng cạnh tranh thế nào so với sản phẩm được sản xuất đại trà hiện nay.

Dê thịt được sản xuất ra giai đoạn 6 tháng tuổi có trọng lượng đạt từ 19 – 24 kg đối với dê bách thảo, 21- 25 kg đối với dê F1 (boer x bách thảo) và 24 – 28 kg đối với dê boer thuần.

Chất lượng thịt được cải tiến, thịt thơm, mềm, ít mỡ, tỷ lệ thịt xẻ từ 40 – 45%.

– Công nghệ áp dụng trong mô hình đem đến lợi thế nào so với sản xuất truyền thống.

Mô hình sử dụng giống dê chuyên thịt để nâng cao năng suất và chất lượng thịt hơn giống dê địa phương hoặc các giống dê lai qua nhiều thế hệ (dê cỏ, dê lai giữa dê Bách Thảo và dê cỏ).

Quy trình vỗ béo dê thịt sẽ giúp dê tăng trọng cao trong giai đoạn cuối cũng như cho chất lượng thịt tốt hơn.

IV. Những thuận lợi, khó khăn và lưu ý khi triển khai mô hình

– Thuận lợi:

Chi phí sản xuất thấp do xây dựng chuồng trại trong chăn nuôi dê có thể tận dụng các vật từ sẵn có như tranh, gỗ, tre…. công lao động cũng giảm đáng kể do nuôi theo hình thức nuôi nhốt và chủ động được nguồn thức ăn. Dê là con vật dễ nuôi có khả năng sử dụng thức ăn phong phú, ít bệnh tật nên cũng giảm được chi phí thú y và hao hụt.

– Khó Khăn:

Giống dê được đưa vào mô hình là giống dê chuyên thịt có khối lượng lớn và tăng trọng nhanh vì vậy lượng thức ăn sử dụng sẽ nhiều hơn so với giống dê địa phương kết hợp với nuôi theo phương thức nuôi nhốt thay vì chăn thả điều này khiến cho mô hình chưa thể làm quen ngay từ giai đoạn đầu.

Đối với giống dê bách thảo và F1 (boer x bách thảo) có sự thích nghi cao hơn so với giống dê thuần boer vì vậy cần có sự kiểm soát môi trường cho phù hợp với khả năng thích nghi của giống dê nhập ngoại như giống boer.

V. Hiệu quả đầu tư mô hình (ước tính)

1. Hiệu quả về kinh tế

Hiệu quả kinh tế:

Giá thịt dê hơi giao động từ 80.000  – 100.000 đồng/kg trong khi chi phí sản xuất ra 1kg thịt dê hơi chi phí khoảng 50.000 – 60.000 đồng/kg.

2. Hiệu quả về xã hội

Hiệu quả về xã hội:

Tạo ra sinh kế và cải thiện đáng kể được thu nhập cho người dân. Thay đổi lối chăn nuôi truyền thống bằng phương thức chăn nuôi hiện đại hơn.

VI. Khả năng nhân rộng

Mô hình có khả năng nhân rộng cao vì nâng cao được hiệu quả kinh tế nhờ nâng cao khả năng sản xuất

VII. Địa chỉ chuyển giao, tư vấn

1. Địa chỉ tham quan mô hình

Phân viện Chăn nuôi Nam Bộ, kp Hiệp Thắng, p Bình Thăng, tx Dĩ An, tỉnh Bình Dương

2. Địa chỉ cung cấp nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị

Phân viện Chăn nuôi Nam Bộ, kp Hiệp Thắng, p Bình Thăng, tx Dĩ An, tỉnh Bình Dương

3. Địa chỉ chuyển giao, tư vấn

Phân viện Chăn nuôi Nam Bộ, kp Hiệp Thắng, p Bình Thăng, tx Dĩ An, tỉnh Bình Dương

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ