Quản lý thú y hướng tới sức khoẻ và vệ sinh an toàn thực phẩm

Theo định nghĩa của WHO, “Sức khỏe con người là trạng thái hoàn chỉnh về thể chất,
tinh thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay ốm đau”, do đó khi nói đến sức khỏe là nói đến nhiều khía cạnh của cuộc sống con người (Sartorius, 2006). Trong cả lịch sử loài người, ngành chăn nuôi và đảm bảo sức khỏe động vật có vai trò quan trọng đối với sức khỏe con người theo tất cả khía cạnh mà WHO đã đề cập. Chăn nuôi giúp con người có đủ nguồn thực phẩm dinh dưỡng, cung cấp những phụ phẩm cho cuộc sống, phân bón cho cây trồng, làm bạn và bảo vệ con người cũng như góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng. Những giá trị đó luôn tồn tại, mặc dù tính quan trọng có thể thay đổi trong từng điều kiện cụ thể nào đó. Ngày nay, chăn nuôi và sức khỏe động vật có nhiều giá trị đóng góp mới hơn cho sức khỏe con người, như động vật tham gia vào nghiên cứu mô hình sức khỏe con người, động vật cảnh, động vật dùng trong chẩn đoán bệnh,… Trong tất cả các vai trò trên, với đà gia tăng dân số như ngày nay thì việc đáp ứng đủ thực phẩm và thực phẩm phải an toàn cho con người là cực kỳ quan trọng. Trong bài viết này, nhóm tác giả sẽ đề cập tới các vấn đề liên quan đến góc độ an toàn thực phẩm và các sản phẩm chăn nuôi cũng như giải pháp quản lý thú y nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm cho con người.

2. CÁC VẤN ĐỀ THÚ Y LIÊN QUAN AN TOÀN THỰC PHẨM
Bệnh trên vật nuôi ảnh hưởng lớn đến năng suất chăn nuôi. Do đó việc cung cấp đủ
lượng thực phẩm cho con người phụ thuộc nhiều vào cách quản lý thú y. Ví dụ điển hình là những đợt dịch tả heo châu Phi đã làm giảm hơn 1/3 số heo nuôi tại Việt Nam từ năm 2019- 2021, làm thiếu trầm trọng lượng thịt heo cung cấp cho thị trường (Nguyen Thi & cs., 2021). Dịch lở mồm long móng và viêm da nổi cục cũng ảnh hưởng không nhỏ đến lượng thịt cũng như thu nhập của người chăn nuôi. Những bệnh không gây ra dịch lớn như trên nhưng “âm thầm” làm giảm năng suất chăn nuôi như bệnh viêm phổi phức hợp trên heo (PRDC), bệnh do PCV2 trên heo, bệnh hô hấp mãn tính trên gà CRD… khiến gia tăng chi phí chăn nuôi, làm cho chăn nuôi kém bền vững hơn. Khi tình trạng bệnh trên vật nuôi xảy ra, ngoài ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của thực phẩm cũng không tốt, đặc biệt việc phòng trị các bệnh do vi khuẩn thường xuyên kéo theo các vấn đề về tồn dư và đề kháng kháng sinh ảnh hưởng sức khỏe con người.

2.1. Bệnh truyền lây giữa động vật và người
Bệnh truyền lây giữa động vật và người chiếm 60% bệnh truyền nhiễm trên người, trong đó 75% bệnh mới nổi trên người có nguồn gốc từ động vật (Jones & cs., 2008). Các bệnh như cúm gia cầm, cúm heo, bệnh liên cầu khuẩn, bệnh do Leptospira, bệnh do Nipah virus… có thể lây trực tiếp cho người nuôi, bài thải ra môi trường, hay qua thực phẩm để phát tán quy mô rộng. Việc giám sát, kiểm soát các bệnh này trong chăn nuôi có ý nghĩa to lớn trong việc cảnh báo và phòng bệnh cho con người. Bảng 1 liệt kê các bệnh truyền qua thực phẩm có nguồn gốc từ động vật đáng quan tâm tại Việt Nam (Carrique-Mas & Bryant, 2013).
2.2. Bệnh gây ngộ độc thực phẩm
Bệnh gây ngộ độc thực phẩm cho con người, có thể không phải là bệnh quan trọng trực
tiếp cho năng suất nhƣng nhiễm vào sản phẩm và truyền lây cho con người là mối quan tâm rất lớn hiện nay. Việc sản xuất và chế biến công nghiệp làm cho quy mô của bệnh càng nghiêm trọng, có thể trên diện rộng như quốc gia. Trong năm vừa qua, các vụ ngộ độc thực phẩm được quan tâm rất lớn như vụ ngộ độc Clostridium botulinum và Salmonella tại Nha Trang gây bức xúc trong dƣ luận (Tuoitreonline, 2023). Các mầm bệnh này đều có nguồn gốc từ động vật và nhiễm vào thực phẩm trong quá trình giết mổ gia súc hay bài thải mầm bệnh ra bên ngoài gây ô nhiễm nguồn nước.
Việc quản lý thú y không tốt dẫn đến lạm dụng kháng sinh và đề kháng kháng sinh trong
chăn nuôi gây ảnh hƣởng tới sức khỏe con người. Theo Sugden (2016), việc dùng kháng sinh trong chăn nuôi đã đến lúc báo động với hơn 70% kháng sinh sản xuất được dùng trong chăn nuôi và Việt Nam được xếp trong nhóm nước có tốc độ sử dụng kháng sinh tăng nhanh. Đó là lý do tồn dư kháng sinh và đề kháng kháng sinh tại Việt Nam luôn ở mức cao. Theo Hương & cs. (2020), các mẫu thịt gà và thịt heo dương tính với kháng sinh nhóm beta-lactam, tetracycline và sulfonamide lần lượt là 13 (3,6%), 99 (27,5%), 16 (4,4%) và 13 (3,6%), 29 (8,1%), 29 (8,1%). Trong đó, tetracycline là nhóm kháng sinh tồn dư trong thịt có tỉ lệ cao nhất, đạt 18% trong tổng số 720 mẫu. Tồn dư vừa ảnh hưởng sức khỏe con người vừa tạo điều kiện cho đề kháng kháng sinh xảy ra. Việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi kéo theo đề kháng kháng sinh gây bệnh trên động vật, tăng chi phi điều trị và giảm hiệu suất chăn nuôi. Bên cạnh đó các vi khuẩn đề kháng kháng sinh theo môi trường hay chuỗi thực phẩm truyền lây cho người (Hernando-Amado & cs., 2019).
Tồn dư các hoá chất khác trong sản phẩm động vật cũng là vấn đề cần được quản lý.
Thuốc kích thích tăng trọng như beta-agonist, thuốc an thần được dùng trong giảm stress khi giết mổ gây tồn dư trong thịt ảnh hưởng người tiêu dùng. Chưa kể đến những dược phẩm khác được đưa vào con thú trước, trong và sau giết mổ với nhiều mục đích khác nhau rất khó quản lý. Ngoài ra, những chất có sẵn trong môi trường (ví dụ dioxin, hạt vi nhựa) có thể là nguồn tồn dư mà con người không cố ý đưa vào (Sewwandi & cs., 2023; Tuyet-Hanh & cs., 2015).
Những vấn đề gián tiếp khác của chăn nuôi liên quan sức khỏe con người cần được quan tâm có thể kể đến vấn đề ô nhiễm môi trường và khí thải nhà kính, phúc lợi động vật trong chăn nuôi và vận chuyển gia súc làm thực phẩm. Chăn nuôi càng nhiều để đáp ứng nhu cầu con người do sự gia tăng dân số trên toàn cầu làm cho lượng chất thải, khí thải ra môi trường càng lớn, nếu

Nguyễn Tất Toàn
Trường Đại học Nông Lâm Tp. HCM

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ