TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 3/2019

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo tổng hợp báo cáo của Bộ NN&PTNT và tính toán từ TCTK, Theo tính toán của TCTK, so với quý 1 năm 2018, sản lượng thịt các loại xuất chuồng như sau: thịt trâu hơi ước đạt 26,3 nghìn tấn, tăng 1,8%; sản lượng thịt bò hơi ước đạt 99,2 nghìn tấn, tăng 2,5%; sản lượng sữa bò tươi ước đạt 252,2 nghìn tấn, tăng 7,3%; sản lượng thịt lợn hơi ước đạt 1.012,2 nghìn tấn, tăng 3,2%; sản lượng thịt gia cầm hơi ước đạt 338,3 nghìn tấn, tăng 6,2%; sản lượng trứng gia cầm ước đạt 3,6 tỷ quả, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2018.

Chăn nuôi trâu, bò:

Tổng đàn trâu cả nước vẫn giảm do hiệu quả kinh tế không cao và môi trường chăn thả bị thu hẹp. Đàn bò phát triển khá do có thị trường tiêu thụ tốt, giá bán thịt bò hơi ở mức tốt, người chăn nuôi có lãi ổn định. Theo số liệu ước tính của Tổng cục Thống kê (TCTK), tổng số trâu của cả nước tháng 3 năm 2019 giảm 2,8%; tổng số bò tăng 3% so với cùng thời điểm năm 2018;

Chăn nuôi lợn:

Ngành chăn nuôi lợn đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức khi dịch tả lợn châu Phi đã chính thức xâm nhập vào Việt Nam. Diễn biến phức tạp của dịch đã ảnh hưởng nhiều đến thị trường. Người tiêu dùng cũng đang có xu hướng hạn chế sử dụng thịt lợn. Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng số lợn của cả nước tháng 3 năm 2019 tăng 2,5% so với cùng thời điểm năm 2018;

Chăn nuôi gia cầm:

Đàn găn nuôi lợn:ia cầm cả nước trong quý I nhìn chung phát triển tốt, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Nhiều cơ sở chăn nuôi lớn cũng mạnh dạn mở rộng quy mô đàn, áp dụng kỹ thuật tiên tiến do có thị trường tiêu thụ ổn định. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tháng 3 năm 2019 tăng 6,5% so với cùng thời điểm năm 2018;

Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi:

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 3 năm 2019 ước đạt 47 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 3 tháng đầu năm 2019 ước đạt 129 triệu USD, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2018. Hai tháng đầu năm 2019 giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ gia cầm đạt 4,4 triệu USD, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm 2018; Giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ lợn đạt gần 10 triệu USD, tăng 37,7% so với cùng kỳ năm 2018.

KH. Chan nuoi Viet Nam 3

DỊCH BỆNH: 

Dịch cúm gia cầm:

Trong tháng 3/2019, dịch CGC đã xảy ra rải rác ra tại 05 hộ chăn nuôi gia cầm trên địa bàn 05 tỉnh, thành phố gồm: Khánh Hòa, Nghệ An, Vĩnh Long, Trà Vinh và Hà Nội. Số gia cầm mắc bệnh là 3.971 con, số gia cầm chết và tiêu hủy là 6.671 con. Tính đến ngày 20/3/2019, cả nước còn 03 ổ dịch CGC chưa qua 21 ngày, tại các tỉnh Khánh Hòa, Nghệ An và Vĩnh Long.

Dịch lở mồm long móng:

Từ ngày 01/3/2019 đến hết ngày 20/3/2019, dịch LMLM típ O đã xuất hiện tại 69 hộ của 45 xã, phường, thị trấn của 27 huyện, thị xã, thành phố thuộc 10 tỉnh (Bình Dương, Đắk Lắk, Đồng Nai, Hậu Giang, Khánh Hòa, Kon Tum, Long An, Phú Yên, Quảng Nam, Trà Vinh). Tổng gia súc mắc bệnh là 1.507 con lợn; số gia súc tiêu hủy là 1.335 con lợn.

Dịch tai xanh:

Trong tháng 3/2019, cả nước không phát sinh ổ dịch Tai xanh. Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh xảy ra.

Dịch tả lợn Châu Phi:

Từ ngày 01/02-24/3/2019, dịch bệnh đã xảy ra tại 424 xã, 80 huyện của 21 tỉnh, thành phố (Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Dương, Hà Nam, Hòa Bình, Điện Biên, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Ninh Bình, Nam Định, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Sơn La, Nghệ An, Bắc Ninh, Thừa Thiên – Huế, Lai Châu và Bắc Giang), với tổng số lợn bệnh và tiêu hủy là 58.741 con. Tính đến ngày 24/3/2019, chưa có ổ dịch nào qua 30 ngày theo quy định tại Quyết định số 4527/QĐ-BNN-TY ngày 15/11/2018 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về Kế hoạch hành động ứng phó khẩn cấp với bệnh DTLCP).

 

 THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Trong tháng 3/2019, giá lợn hơi trong nước giảm bởi sức mua giảm do người dân vẫn e ngại dịch tả lợn châu Phi. Giá lợn hơi tại miền Bắc giảm 3.000 – 5.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại Nam Định xuống 35.000 đ/kg; Bắc Giang, Hà Nam xuống 36.000 đ/kg. Tại Tuyên Quang, Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc giá khoảng 35.000 – 37.000 đ/kg; Hưng Yên, Thái Nguyên, Thái Bình dao động trong khoảng 36.000 – 38.000 đ/kg, có nơi xuống còn 32.000 – 34.000 đ/kg. Tại Yên Bái, Lào Cai, Hải Dương, Ninh Bình lợn hơi được thu mua trong khoảng 39.000 – 40.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại miền Trung cũng giảm. Tại Khánh Hòa, Ninh Thuận giảm 5.000 đ/kg xuống 44.000 đ/kg. Tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, giá đồng loạt giảm 7.000 đ/kg xuống 39.000 đ/kg. Những đợt giảm liên tiếp đã đẩy giá lợn hơi trong khu vực xuống gần mức giá tại phía Bắc, với mức giá bình quân xuống còn khoảng 38.000 đ/kg. Tại miền Nam, giá lợn hơi cũng cùng xu hướng giảm. Giá lợn hơi tại Tây Ninh giảm 10.000 đ/kg xuống 40.000 đ/kg; Đồng Nai cũng giảm 10.000 đ/kg xuống 40.000 – 41.000 đ/kg. Các tỉnh Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng đồng loạt giảm 6.000 – 9.000 đ/kg còn khoảng 43.000 – 46.000 đ/kg. Tại Bình Dương, Đồng Tháp, An Giang giảm 7.000 – 10.000 đ/kg xuống 42.000 – 45.000 đ/kg.

Giá gà thịt lông màu khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long giảm 2.000 – 4.000 đ/kg xuống còn 29.000 – 31.000 đ/kg. Giá gà thịt lông trắng ở hai khu vực này giảm nhẹ 5.000 – 6.000 đ/kg xuống còn 29.000 – 30.000 đ/kg. Giá trứng gà bán tại trại tại hai khu vực này giảm 100 đ/quả xuống còn 1.250 đ/quả. Giá trứng giảm do xu hướng tiêu dùng mặt hàng này không nhiều, trong khi nguồn cung khá dồi dào từ các trang trại chăn nuôi. Nhìn lại 3 tháng đầu năm 2019, thị trường lợn hơi biến động tăng nhẹ trong tháng 1 và bắt đầu có xu hướng giảm từ tháng 2 cho đến nay. So với cuối năm 2018, giá lợn hơi miền Bắc giảm 7.000 – 8.000 đ/kg, giá lợn hơi tại miền Trung giảm 5.000 đ/kg, giá lợn hơi miền Nam giảm 6.000 – 7.000 đ/kg.

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

 

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU 

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 3/2019 đạt 345 triệu USD, tăng 42% so với tháng trước đó và tăng 1,01% so với cùng tháng năm ngoái.

 

Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 3/2019 vẫn là Argentina, Mỹ, Brazil và Trung Quốc… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 124 triệu USD, tăng 35,41% so với tháng trước đó và tăng 21,76% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL trong 3 tháng đầu năm 2019 lên hơn 327 triệu USD, chiếm 33,8% thị phần.

Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 3/2019 đạt hơn 46 triệu USD, tăng 9,88% so với tháng 2/2019 nhưng giảm 43,2% so với tháng 3/2018. Tính chung, trong 3 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt  hơn 175 triệu USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2018.

Đứng thứ ba là Brazil với kim ngạch nhập khẩu hơn 32 triệu USD, tăng 131,93% so với tháng 2/2019 và tăng 3,87% so với tháng 3/2018, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm 2019 lên hơn 81 triệu USD, tăng 1,51% so với cùng kỳ năm 2018.

Tính chung, trong 3 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã chi hơn 969 triệu USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 5,38% so với cùng kỳ năm 2018. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh  trong thời gian này là: Chile với 3,1 triệu USD, tăng 251,55% so với cùng kỳ năm 2018, Tây Ban Nha với 3,9 triệu USD, tăng 184,2% so với cùng kỳ năm 2018, Australia với hơn 8,4 triệu USD, tăng 182,18% so với cùng kỳ năm 2018, sau cùng là Italia với hơn 16 triệu USD, tăng 46,26% so với cùng kỳ.

Nhập khẩu TĂCN & NL 3 tháng đầu năm 2019 theo thị trường

ĐVT: nghìn USD

Thị trường T3/2019 +/- So vớiT3/2018 (%) 3T/2019 +/- So với 3T/2018 (%)
Tổng KN 345.024 1,01 969.898 5,38
Argentina 124.049 21,76 327.904 1,66
Ấn Độ 16.365 9,99 55.934 -17,93
Anh 41 -74,31 178 -48,46
Áo 25 -96,21 791 -55,97
Bỉ 959 -73,19 3.415 -65,80
Brazil 32.011 3,87 81.311 1,51
UAE 1.856 -80,35 6.054 -72,89
Canada 4.965 70,54 9.517 41,60
Chile 951 276,02 3.124 251,55
Đài Loan (TQ) 6.159 -27,09 14.730 -14,48
Đức 1.041 27,96 2.729 -2,40
Hà Lan 1.598 0,20 5.587 21,78
Hàn Quốc 5.359 14,84 11.680 13,49
Mỹ 46.075 -43,20 175.129 19,00
Indonesia 6.312 -16,90 20.998 -25,79
Italia 6.610 79,25 16.903 46,26
Malaysia 2.840 4,79 6.856 -15,19
Mexico 127 -64,39 717 -47,66
Nhật Bản 92 -68,52 589 14,35
Australia 2.367 231,28 8.485 182,18
Pháp 3.625 14,82 9.531 22,06
Philippin 2.770 30,33 4.680 -4,96
Singapore 1.050 -40,38 4.246 -0,73
Tây Ban Nha 943 119,62 3.959 184,20
Thái Lan 12.161 -12,28 29.531 11,64
Trung Quốc 17.965 7,98 49.173 -8,42

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật trong 3 tháng đầu năm 2019.

Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 3 tháng đầu năm 2019

Mặt hàng

3T/2019 +/- So với 3T/2018
Lượng (nghìn tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (%) Trị giá (%)
Lúa mì 506 141.513 -57,6 -51,1
Ngô 2.048 433.797 5,9 16,9
Đậu tương 437 173.592 11,9 4,1
Dầu mỡ động thực vật 162.250 -10,6

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Lúa mì: 

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 3/2019 đạt 138 nghìn tấn với kim ngạch đạt 37 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 3 tháng đầu năm 2019 lên hơn 506 nghìn tấn, với trị giá hơn 141 triệu USD, giảm 57,55% về khối lượng và giảm 51,08% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong  3 tháng đầu năm 2019 là Nga chiếm 36% thị phần; Australia chiếm 31%, Canada chiếm 10%, Brazil chiếm 16% và Mỹ chiếm không đáng kể.

Hầu hết các thị trường nhập khẩu lúa mì đều giảm mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2018 là Mỹ, Australia, Nga và Canada. Trong 3 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu lúa mì Mỹ giảm 99,1% về lượng và giảm mạnh 98,93% về trị giá so với cùng kỳ. Tiếp theo là Australia giảm 67,01% về lượng và giảm 61,72% về trị giá so với cùng kỳ. Nga giảm 60,15% về lượng và giảm 48,64% về trị giá so với cùng kỳ. Sau cùng là Canada giảm 56,68% về lượng và giảm 56,97% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Duy nhất chỉ có Brazil tăng mạnh 48,12% về lượng và 89,71% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Đậu tương: 

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 3/2019 đạt 112 nghìn tấn với trị giá hơn 45 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong 3 tháng đầu năm 2019 lên hơn 437 nghìn tấn và 173 triệu USD, tăng 11,92% về khối lượng và tăng 4,06% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Ngô: 

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 3/2019  đạt hơn 435 nghìn tấn với trị giá đạt 93 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 3 tháng đầu năm 2019 lên hơn 2 triệu tấn, trị giá hơn 433 triệu USD, tăng 5,93% về khối lượng và 16,94% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Brazil và Argentina là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 72% và 25% thị phần. Tuy nhiên, trong 3 tháng đầu năm 2019 nhập khẩu ngô từ thị trường Argentina giảm mạnh 63,2% về lượng và 59,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Sữa và SP từ sữa:

Kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm tiếp tục tăng tháng thứ ba liên tiếp kể từ đầu năm đến nay, nâng kim ngạch nhập khẩu mặt này quý 1/2019 của Việt Nam lên gần 96 triệu USD, tăng trên 10% so với cùng kỳ năm trước.
Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm của Việt Nam trong tháng 3/2019 đạt 91,94 triệu USD tăng 0,43% so với tháng trước đó – đây là tháng thứ ba tăng liên tiếp. Nâng kim ngạch nhập khẩu sữa quý 1/2019 lên 258,19 triệu USD, tăng 11,74% so với cùng kỳ 2018.
Việt Nam nhập khẩu sữa và sản phẩm chủ yếu từ New Zealand, các nước Đông Nam Á và EU, tỷ trọng từ các thị trường này chiếm lần lượt 37%; 22,35% và 15,41%. So sánh với cùng kỳ năm trước, thì trong quý 1 năm nay tố độ tăng trưởng nhập từ các thị trường tăng tương ứng 24,44%; 76,27% và 69,6%.
Ngoài ba thị trường chủ lực kể trên, Việt Nam còn nhập khẩu từ các thị trước khác nữa như Singapore, Mỹ, Thái Lan, Đức….
Đáng chú ý, trong quý 1/2019, Việt Nam tăng mạnh nhập khẩu sữa và sản phẩm từ hai thị trường Australila và Bỉ, với tốc độ tăng trưởng đều gấp trên 2 lần so với quý 1/2018, trong đó tăng nhiều nhất ở thị trường Australia gấp 2,8 lần (tương ứng 180,86%) tuy chỉ đạt 17,34 triệu USD, mặc dù kim ngạch trong tháng 3/2019 nhập từ thị trường này giảm 9,43% so với tháng 2/2019, nhưng tăng 47,53% so với tháng 3/2018. Đối với thị trường Bỉ, tốc độ tăng trưởng 2,3 lần (tương ứng 126,82%) và kim ngạch trong tháng 3/2019 chỉ đạt 296,8 nghìn USD, giảm 7,36% so với tháng 2/2019, nhưng tăng gấp gần 4 l ần (tương ứng 295,28%) so với tháng 3/2018.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam giảm mạnh nhập khẩu từ thị trường Irelan với mức sụt giảm 39,06% chỉ có 2,66 triệu USD, riêng tháng 3/2019 nhập từ thị trường này tăng 76,28% so với tháng 2/2019 và tăng 56,43% so với tháng 3/2018.
Thị trường cung cấp sữa và sản phẩm quí 1/2019

Một thông tin vui đến các doanh nghiệp trong ngành sữa Việt Nam, đó là sữa Việt Nam sẽ được xuất khẩu chính ngạch vào thị trường Trung Quốc.
Theo nguồn tin từ TTXVN, trong dịp Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham dự Diễn đàn cấp cao hợp tác “Vành đai và Con đường” tại thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc theo lời mời của Tổng bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình từ ngày 25 – 27/4, đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và đại diện Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã ký 03 văn kiện hợp tác quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp, đó là: Nghị định thư về yêu cầu thú y và sức khỏe cộng đồng đối với các sản phẩm sữa của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc, Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với măng cụt xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc và Bản ghi nhớ về thiết lập Cơ chế ngăn chặn và kiểm soát sâu bệnh thực vật tại khu vực biên giới giữa hai nước.
Nghị định thư là cơ sở pháp lý rất quan trọng tạo điều kiện cho sữa của Việt Nam xuất khẩu chính ngạch sang thị trường giàu tiềm năng với 1,4 tỷ người tiêu dùng này. Đây cũng là sự cam kết giữa hai Chính phủ và các cơ quan chức năng hai nước về việc trao đổi, lưu thông của các sản phẩm sữa và sữa để thúc đẩy phát triển chăn nuôi bò sữa và các nguyên liệu phục vụ chế biến sữa và các sản phẩm sữa của Việt Nam trong thời gian tới.
Đây là cơ hội rất tốt cho người dân và doanh nghiệp chăn nuôi bò và chế biến các sản phẩm sữa cùng với các ngành sản xuất nguyên phụ liệu sữa như trồng điều, hạt macca, xoài, dâu… và cũng là cơ hội để thu hút đầu tư vào ngành chăn nuôi và chế biến sữa của Việt Nam, hứa hẹn cho việc phát triển ngành công nghiệp chăn nuôi và chế biến sữa của Việt Nam. Giúp cho việc đầu tư hiện đại hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm sữa của Việt Nam.
Như vậy là trong năm nay, mặt hàng sữa của Việt Nam sẽ có mặt tại thị trường Trung Quốc, tạo cơ hội cho tất cả các doanh nghiệp sữa của Việt Nam.
Bộ NN&PTNT hiện đang triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc một cách hiệu quả bảo đảm rằng các sản phẩm sữa có thể được truy xuất tới nhà sản xuất sữa và các trang trại bò sữa. Theo đó, doanh nghiệp và ngành sữa Việt Nam cần phải tổ chức lại sản xuất chăn nuôi bò sửa theo chuỗi khép kín, kiểm soát được an toàn dịch bệnh và an toàn thực phẩm. Cùng với đó, phải hiện đại hóa các cơ sở, các hệ thống trạm thu mua sữa nguyên liệu và các nhà máy sữa hiện đại đáp ứng nhu cầu xuất khẩu sang Trung Quốc và khẩn trương ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn về sữa nguyên liệu và các sản phẩm thành phẩm.
Thách thức lớn là hiện nay sữa của Australia và New Zealand đang chiếm thị phần lớn trên thị trường sữa Trung Quốc, do đó sữa của Việt Nam vào Trung Quốc có triển vọng nhưng sẽ gặp phải cạnh tranh của hai “ông lớn” này.
Gần đây Trung Quốc thắt chặt thương mại biên giới nên Việt Nam đang đẩy mạnh xuất khẩu chính ngạch. Vì vậy, một mặt duy trì xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc để góp phần giải quyết những mặt hàng chưa đủ điều kiện xuất khẩu chính ngạch, cần đẩy mạnh, mở rộng xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc.
Về cơ chế xuất nhập khẩu, giữa biên giới Việt Nam-Trung Quốc tại các cửa khẩu chính thức tiến tới thực hiện chính sách “1 cửa 1 điểm dừng”. Nếu thực hiện được chính sách này hàng hóa của Việt Nam sẽ lưu thông được nhanh hơn.
 

 

THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, hàng năm Việt Nam cũng phải nhập khẩu tới tỷ USD mặt hàng thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu, tuy nhiên thì kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này luôn ở mức tăng trưởng, năm sau cao hơn năm trước .
Sang năm 2019, trong quý đầu năm xuất khẩu mặt hàng này giảm kim ngạch 7,5% so với cùng kỳ 2018, chỉ đạt 140,79 triệu USD, chiếm 0,23% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tính riêng tháng 3/2019, kim ngạch đạt 56,42 triệu USD, tăng mạnh so với tháng trước 62,9%.
Đông Nam Á là thị trường chủ lực xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam, chiếm 38% tỷ trọng.
Trong top 10 thị trường xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam thì có tới 5 thị trường kim ngạch bị suy giảm – đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này sụt giảm trong quý đầu năm.
Theo đó, Trung Quốc dẫn đầu kim ngạch đạt 32,94 triệu USD, nhưng giảm 9,97% so với cùng kỳ. Riêng tháng 3/2019, Việt Nam đã xuất sang thị trường này 16,6 triệu USD, tăng 60,15% so với tháng 2/2019 nhưng giảm 12,68% so với tháng 3/2018.
Kim ngạch xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu từ năm 2016 đến nay
Kim ngạch (USD) Tỷ trọng (%) +/- so với năm trước (%)
2016 586.477.801 0,332 15,7
2017 609.749.388 0,284 4,0
2018 695.790.141 0,285 14,2
3T/2019 140.794.777 0,239 -7,5
Nguồn: Số liệu TCHQ
Đứng thứ hai là thị trường Campuchia, đạt 23,71 triệu USD, tăng 7,66% so với quí 1/2018. Tính riêng tháng 3/2019 đã xuất sang Campuchia 8,49 triệu USD, tăng 55,43% so với tháng 2/2019 và tăng 7,19% so với tháng 3/2018.
Kế đến là thị trường Malaysia đạt 15,75 triệu USD, tăng 10,68% so với cùng kỳ….
Trong nhóm 10 thị trường chủ lực, thì xuất sang Thái Lan giảm nhiều nhất 39,77% tương ứng với 6,8 triệu USD, riêng tháng 3/2019 đã xuất sang Thái Lan 2,69 triệu USD, tăng 27,86% so với tháng 2/2019 và tăng 20,09% so với tháng 3/2018.
Đáng chú ý, nếu so sánh kim ngạch xuất khẩu trong tháng 3/2019 so với tháng 2/2019 thì xuất sang thị trường Ấn Độ, Mỹ và Singapore tăng nhiều nhất, trong đó Ấn Độ tăng gấp trên 4 lần (tương ứng 326,65%) tuy chỉ đạt 6,7 triệu USD; Mỹ tăng gấp 3,2 lần (tương ứng 225,38%) đạt 3,16 triệu USD và Singapore tăng gấp 2,2 lần (tương ứng 118,57%).
Nếu so sánh với cùng kỳ năm trước thì xuất khẩu sang Nhật Bản tăng mạnh vượt trội 56,86% đạt 11,81 triệu USD, ở chiều ngược lại xuất sang Thái Lan giảm mạnh 39,77% tương ứng với 6,83 triệu USD.
Thống kê thị trường xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu quí 1/2019
Thị trường T3/2019 (USD) +/- so với T2/2019 (%)* Quí 1/2019 (USD) +/- so với cùng kỳ 2018 (%)*
Trung Quốc 16.601.368 60,15 32.942.739 -9,97
Campuchia 8.492.415 55,43 23.712.008 7,66
Malaysia 4.926.482 17,43 15.752.557 10,68
Ấn Độ 6.757.318 326,65 12.830.812 -36,71
Nhật Bản 2.591.145 24,27 11.816.074 56,86
Hoa Kỳ 3.126.337 225,38 7.068.118 -31,03
Thái Lan 2.697.178 27,86 6.835.043 -39,77
Đài Loan 2.104.496 55,88 5.350.513 -8,65
Philippines 1.179.511 -13,84 4.262.933 31,32
Hàn Quốc 1.275.627 51,45 3.636.701 -5,88
Bangladesh 1.395.022 57,86 3.214.206 13,78
Indonesia 758.297 18,27 2.241.092 6,81
Singapore 257.755 118,57 700.328 -23,47
(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)

Sắn và các sản phẩm từ sắn XK:

Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 3 năm 2019 ước đạt 289 nghìn tấn với giá trị đạt 108 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 3 tháng đầu năm 2019 ước đạt 698 nghìn tấn và 260 triệu USD, giảm 21,7% về khối lượng và giảm 9,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Trong 2 tháng đầu năm 2019, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính, chiếm tới 88,5% thị phần, giảm 32,3% về khối lượng và giảm 16,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

 

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ