TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 10/2019

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo Bộ NN&PTNT, Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 10 năm 2019 ước đạt 55 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 10 tháng đầu năm 2019 ước đạt 568 triệu USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2018. Chín tháng đầu năm 2019, giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ gia cầm đạt gần 21,8 triệu USD, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm 2018; Giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ lợn đạt 50,3 triệu USD, tăng 57,4% so với cùng kỳ năm 2018.

Chăn nuôi trâu, bò: Theo số liệu của TCTK, tình hình chăn nuôi trâu, bò trên cả nước trong tháng nhìn chung ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Theo ước tính của TCTK, đàn trâu cả nước tháng 10/2019 giảm 3,1%; đàn bò tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm 2018.

Chăn nuôi lợn: Giá lợn hơi trong tháng trên cả nước tăng cao (dao động quanh mức 60.000 đồng/kg) do nguồn cung bị giảm. Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng đàn lợn của cả nước tháng 10 năm 2019 giảm 20,0% so với cùng thời điểm năm 2018.

Chăn nuôi gia cầm: Đàn gia cầm cả nước trong tháng nhìn chung phát triển tốt. Do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu phi, nên nhiều hộ đã chuyển hướng từ chăn nuôi lợn sang gia cầm và các cơ sở chăn nuôi cũng chủ động tăng đàn gia cầm trước tình hình dịch bệnh ở lợn. Theo ước tính của TCTK, tổng số gia cầm của cả nước tháng 10 năm 2019 tăng 11,5% so với cùng thời điểm năm 2018.

Tình hình dịch bệnh

Theo báo cáo của Cục Thú y, tính đến ngày 23/10/2019, tình hình dịch bệnh xảy ra trên cả nước như sau:

Dịch cúm gia cầm: Trong tháng 10/2019, cả nước xuất hiện 01 ổ dịch CGC A/H5N1 tại tỉnh An Giang và 01 ổ dịch CGC A/H5N6 tại tỉnh Kon Tum, cụ thể:

Tỉnh An Giang: Ngày 01/10/2019, dịch CGC A/H5N1 xảy ra tại 02 hộ chăn nuôi gà thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn. Tổng số gà mắc bệnh, chết và tiêu hủy là: 3000 con.

Tỉnh Kon Tum: Ngày 07/10/2019, dịch CGC A/H5N6 phát sinh tại 01 hộ chăn nuôi gà thuộc xã Đăk Kan, huyện Ngọc Hồi. Tổng số gà bị bệnh, chết và tiêu hủy là 980 con.

Hiện nay, cả nước có 01 ổ dịch CGC A/H5N1 tại xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang và 01 ổ dịch CGC A/H5N6 tại xã Đăk Kan, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum chưa qua 21 ngày.

Dịch lở mồm long móng: Trong tháng 10/2019, cả nước không phát sinh ổ dịch LMLM. Hiện nay, cả nước không có dịch bệnh LMLM.

Dịch tai xanh trên lợn: Trong tháng 10/2019, cả nước không phát sinh ổ dịch Tai xanh. Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh xảy ra.

Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP): Tính đến ngày 22/10/2019, bệnh DTLCP đã phát sinh thêm tại 238 xã, 3 huyện, số lợn buộc phải tiêu hủy là 348.673 con.

– Lũy kế từ đầu tháng 02/2019 đến ngày 22/10/2019, bệnh DTLCP đã xảy ra tại 8.296 xã thuộc 660 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 5.690.624 con; với tổng trọng lượng là 327.128 tấn (chiếm khoảng 8,3% tổng trọng lượng lợn của cả nước).

+ Có 4.615 xã thuộc 603 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 3.240.088 con chưa qua 30 ngày.

+ Có 3.681 xã thuộc 412 huyện của 56 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 2.450.536 con đã qua 30 ngày.

+ Có 573 xã thuộc 240 huyện của 47 tỉnh, thành phố có dịch bệnh đã qua 30 ngày nhưng sau đó lại phát sinh lợn bệnh.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

Giá lợn nạc giao tháng 10/2019 thị trường Chicago, Mỹ biến động giảm trong tháng qua với mức giảm 6,775 UScent/lb xuống còn 65,825 UScent/lb. Giá thịt lợn giảm do thị trường không chắc chắn về nhu cầu nhập khẩu thịt từ Trung Quốc. Trung Quốc đang phải đối mặt với tình trạng thiếu thịt lợn nghiêm trọng do dịch tả lợn châu Phi. Nhưng cho đến nay, các giao dịch mua thịt lợn của Hoa Kỳ từ phía Trung Quốc đã giảm nhiều so với mong đợi của một số thương nhân.

Trong tháng 10/2019, giá lợn hơi trong nước biến động tăng. Giá thịt lợn tăng do nhiều yếu tố tác động. Bên cạnh yếu tố nguồn cung giảm, một số hộ gia đình đã có xu hướng giữ đàn lợn để tăng trọng lượng cao hơn mới bán ra, tạo nên tâm lý thiếu nguồn cung cho thị trường. Tại miền Bắc, giá lợn hơi đang dao động 58.000 – 60.000 đ/kg, tăng 13.000 – 15.000 đ/kg. Trong đó, tại Tuyên Quang, Bắc Giang, Hà Nam, Hà Nội đạt 60.000 đ/kg. Các tỉnh Hưng Yên, Thái Nguyên 61.000 – 63.000 đ/kg; Nam Định, Hải Dương, Phú Thọ, Chương Mỹ, Sơn La thấp hơn 1.000 – 2.000 đ/kg, đạt mức 58.000 – 60.000 đ/kg. Tại miền Trung, Tây Nguyên giá lợn hơi tăng 9.000 – 16.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh đạt 60.000 đ/kg; tại Quảng Bình, Quảng Trị, Lâm Đồng, Bình Thuận 55.000 – 58.000 đ/kg; tại Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Đắk Lắk 50.000 – 53.000 đ/kg; các tỉnh Khánh Hoà, Bình Định đạt 47.000 – 48.000 đ/kg. Tại miền Nam giá lợn hơi tăng 11.000 – 17.000 đ/kg. Tại Tây Ninh giá lợn hơi 52.000 đ/kg; Long An, Bến Tre 54.000 đ/kg và 53.000 đ/kg; các địa phương còn lại như Bình Phước, Bình Dương, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang… đang ở mức 57.000 – 60.000 đ/kg, tương đương mức giá tại các tỉnh phía Bắc; trong khi, Đồng Nai, TP HCM, Tiền Giang, Trà Vinh đạt 53.000 – 55.000 đ/kg.

Giá thu mua gà thịt lông màu tại trại ở Đông Nam Bộ và ĐBSCL ổn định trong tháng 10, hiện giữ mức 27.000 – 28.000 đ/kg. Giá thu mua gà thịt lông trắng tại hai khu vực này tăng 4.000 – 5.000 đ/kg lên 25.000 – 26.000 đ/kg. Giá trứng gà tại trại giảm 150 đồng/quả xuống còn 1.400 – 1.500 đ/quả.

Dự báo, giá thịt lợn thời gian tới sẽ tăng do nhu cầu lớn dịp cuối năm.

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU 

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 10/2019 đạt 337 triệu USD, tăng 28,51% so với tháng trước đó và tăng 1,37% so với cùng tháng năm ngoái.Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 10/2019 vẫn là Argentina, Mỹ, Brazil và Trung Quốc… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 142 triệu USD, tăng 18,11% so với tháng trước đó và tăng 18,13% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL trong 10 tháng đầu năm 2019 lên hơn 1,2 tỉ USD, chiếm 40,7% thị phần.Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 10/2019 đạt hơn 59 triệu USD, tăng 77,99% so với tháng 9/2019 song giảm 8,04% so với tháng 10/2018. Tính chung, trong 10 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 510 triệu USD, giảm 9,9% so với cùng kỳ năm 2018.Đứng thứ ba là Brazil với kim ngạch nhập khẩu hơn 38 triệu USD, tăng 382,53% so với tháng 9/2019 và tăng 15,28% so với tháng 10/2018, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 10 tháng đầu năm 2019 lên hơn 201 triệu USD, giảm 52,08% so với cùng kỳ năm 2018.Tính chung, trong 10 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã chi hơn 3,1 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, giảm 1,93% so với cùng kỳ năm 2018. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh trong thời gian này là: Canada với 43,4 triệu USD, tăng 147,35% so với cùng kỳ năm 2018, Australia với 20,3 triệu USD, tăng 57,43% so với cùng kỳ năm 2018, Argentina với hơn 1,2 tỉ USD, tăng 27,55% so với cùng kỳ năm 2018, sau cùng là Thái Lan với hơn 93,5 triệu USD, tăng 8,17% so với cùng kỳ.

Nhập khẩu TĂCN& NL10 tháng đầu năm 2019 theo thị trường

ĐVT: nghìn USD

Thị trườngT10/2019+/- So vớiT9/2019 (%)10T/2019+/- So với 10T/2018 (%)
Tổng KN337.09928,53.158.652-1,9
Argentina142.20418,11.284.64827,6
Ấn Độ10.168126,5140.283-7,9
Anh 956-14,2
Áo8810,22.512-50,8
Bỉ48927,36.679-69,9
Brazil38.075382,5201.784-52,1
UAE1.64864217.444-66,3
Canada3.924643.458147,4
Chile162 6.586-72,2
Đài Loan (TQ)7.68525,465.384-15,9
Đức640-14,68.7422,5
Hà Lan616-37,311.990-39,6
Hàn Quốc2.637-30,939.472-4,2
Mỹ59.48778510.771-9,9
Indonesia7.321-28,771.102-8,9
Italia4.07124,839.704-7,9
Malaysia3.278-7,227.077-8,1
Mexico181-18,42.002-43,7
Nhật Bản16947,11.674-49,7
Australia444-16,520.33657,4
Pháp1.89917,125.276-12,7
Philippin725-64,514.4661,3
Singapore1.9395,615.3874,4
Tây Ban Nha226-72,18.114-42,2
Thái Lan6.177-29,893.5608,2
Trung Quốc13.6350,7153.760-19,6

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật trong 10 tháng đầu năm 2019.

Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 10 tháng đầu năm 2019

Mặt hàng10T/2019+/- So với 10T/2018
Lượng (nghìn tấn)Trị giá (nghìn USD)Lượng (%)Trị giá (%)
Lúa mì2.327612.987-49,9-44,6
Ngô9.2471.872.29012,910,2
Đậu tương1.417563.419-2,3-10
Dầu mỡ động thực vật 574.234 -5,4

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Lúa mì: 

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 10/2019 đạt 489 nghìn tấn với kim ngạch đạt 118 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 10 tháng đầu năm 2019 lên hơn 2,3 triệu tấn, với trị giá hơn 612 triệu USD, giảm 49,58% về khối lượng và giảm 44,56% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 10 tháng đầu năm 2019 là Australia chiếm 37% thị phần; Nga chiếm 26%; Canada chiếm 12%; Mỹ chiếm 10% và Brazil chiếm 4%.Hầu hết các thị trường nhập khẩu lúa mì đều giảm mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2018 là Nga, Australia và Canada. Trong 10 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu lúa mì Nga giảm 75,6% về lượng và giảm mạnh 74,76% về trị giá so với cùng kỳ. Tiếp theo là Austalia giảm 16,67% về lượng và giảm 13,24% về trị giá so với cùng kỳ. Sau cùng là Canada giảm 12,48% về lượng và giảm 10,45% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Trong khi đó, Mỹ tăng 22,52% về lượng và 22,86% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Tiếp theo là Brazil tăng 9,17% về lượng và tăng 38,81% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Đậu tương: 

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 10/2019 đạt 113 nghìn tấn với trị giá hơn 45 triệu USD, đưa khối lượng và kim ngạch nhập khẩu đậu tương trong 10 tháng đầu năm 2019 lên 1,4 triệu tấn và 563 triệu USD, giảm 2,25% về lượng và giảm 10,04% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Ngô: 

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 10/2019 đạt hơn 1,3 triệu tấn với trị giá đạt 256 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 10 tháng đầu năm 2019 lên hơn 9,2 triệu tấn, trị giá hơn 1,8 tỉ USD, tăng 12,94% về khối lượng và tăng 10,17% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.Đồng thời, nhập khẩu ngô trong 10 tháng đầu năm 2019 từ các thị trường chủ yếu đều tăng mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 65% và 33% thị phần.

Nhập khẩu sữa và SP từ sữa:

Sau khi suy giảm hai tháng liên tiếp, sang tháng 10/2019 nhập khẩu sữa và sản phẩm từ sữa kim ngạch đã tăng trở lại, tăng 41,2% so với tháng 9/2019.

Nâng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này 10 tháng 2019 lên 866,08 triệu USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2018.Việt Nam nhập khẩu sữa và sản phẩm chủ yếu từ New Zealand, các nước Đông Nam Á và EU, tỷ trọng từ các thị trường này chiếm lần lượt 28,2%; 22,3% và 19,99%.

So sánh với cùng kỳ năm trước, thì 10 tháng đầu năm nay kim ngạch nhập khẩu từ 2 thị trường New Zealand, Đông Nam Á đều suy giảm, giảm lần lượt 0,72% và 0,05%, mặc dù tháng 10/2019 tốc độ nhập từ hai thị trường này tăng trưởng, theo đó nhập từ New Zealand tăng nhiều nhất 68,56% và Đông Nam Á tăng 8,76% so với tháng 9/2019.Nhập từ các nước EU tăng 10,96%, riêng tháng 10/2019 tăng 63,37% so với tháng 9/2019 và tăng 23,82% so với tháng 10/2018.

Ngoài ba thị trường chủ lực kể trên, Việt Nam còn nhập khẩu từ các thị trước khác nữa như Singapore, Mỹ, Thái Lan, Đức….

Nhìn chung, 10 tháng đầu năm 2019 kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm từ các thị trường đều tăng trưởng, trong đó Việt Nam tiếp tục tăng mạnh nhập khẩu từ Ireland và Bỉ. Cụ thể, nhập từ hai thị trường này đều có tăng gấp hơn 2,8 lần so với cùng kỳ, đạt lần lượt 35,65 triệu USD và 8,81 triệu USD, riêng tháng 10/2019 cũng đã nhập từ thị trường Ireland 10,01 triệu USD, tăng gấp 4,7 lần (tức tăng 368,68%) so với tháng 9/2019 và tăng gấp 6,6 lần (tức tăng 561,52%) so với tháng 10/2018; tháng 10/2019 cũng đã nhập từ thị trường Bỉ 984,1 nghìn USD, tăng 24,96% so với tháng 9/2019 và tăng 54,79% so với tháng 10/2018.Ngược lại, Việt Nam giảm mạnh nhập khẩu sữa từ thị trường Ba Lan, giảm 21,93% tương ứng với 14,49 triệu USD so với cùng kỳ, trong tháng 10/2019 kim ngạch cũng giảm 29,56% so với tháng 9/2019 và giảm 54,27% so với tháng 10/2018.

Đáng chú ý, cơ cấu thị trường cung cấp sữa và sản phẩm sữa 10 tháng đầu năm nay có thêm thị trường Thụy Sỹ với kim ngạch 13,22 triệu USD, riêng tháng 10/2019 kim ngạch nhập từ thị trường này tăng 20,59% so với tháng 9/2019 đạt 1,71 triệu USD.

Thị trường nhập khẩu sữa và sản phẩm 10 tháng năm 2019

Thị trườngTháng 10/2019 (USD)+/- so với tháng 9/2019 (%)*10 tháng năm 2019 (USD)+/- so với cùng kỳ 2018 (%)*
New Zealand29.441.28168,56244.261.467-0,72
Mỹ13.844.40661,9105.509.4615,57
Singapore3.147.5247,4489.899.550-21,82
Thái Lan6.222.2605,7252.800.69516,84
Malaysia7.687.7349,245.252.32853,02
Australia3.992.84144,7241.255.33469,77
Nhật Bản5.128.264-1,6939.427.47443,3
Đức3.921.15810,4139.320.607-17,87
Ireland10.017.968368,6835.659.689175,06
Pháp4.811.829180,8635.297.32119,22
Hà Lan1.514.723-48,3726.385.565-17,03
Ba Lan616.556-29,5614.496.023-21,93
Tây Ban Nha618.391-59,1611.250.6914,65
Hàn Quốc1.332.92039,3310.609.7581,93
Bỉ984.19124,968.811.940175,54
Philippines612.97056,665.358.04746,46
Đan Mạch90.437-70,371.949.39049,45

(*Tính toán số liệu từ TCHQ)

Xuất khẩu TACN và nguyên liệu:

Sau khi suy giảm 2 tháng liên tiếp, sang tháng 10/2019 xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu kim ngạch đã tăng trở lại, tăng 20,1% so với tháng 9/2019 đạt 60,88 triệu USD.

Nâng kim ngạch xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu 10 tháng đầu năm 20291 lên 577,29 triệu USD, giảm 4% so với cùng kỳ năm trước.

Đông Nam Á là thị trường xuất khẩu chủ lực nhóm hàng này của Việt Nam, chiếm 34,44% tỷ trọng đạt 198,87 triệu USD, tăng 3,88% so với cùng kỳ năm trước, riêng tháng 10/2019 đã xuất sang thị trường này 21,45 triệu USD, tăng 1,74% so với tháng 9/2019 và tăng 8,47% so với tháng 10/2018.

Trong số những thị trường nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu từ Việt Nam, với vị trí và khoảng cách địa lý không xa với Việt Nam, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, Trung Quốc là thị trường chủ lực đạt kim ngạch cao nhất 157,75 triệu USD, tuy nhiên so với cùng kỳ sụt giảm 17,25%, tính riêng tháng 10/2019 xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc tăng 65,95% so với tháng 9/2019 nhưng giảm 18,57% so với tháng 10/2018.

Kế đến là các thị trường Campuchia, Malaysia. Theo đó, xuất sang Campuchia tăng 7,64% đạt 83,64 triệu USD, riêng tháng 10/2019 xuất sang thị trường này giảm 3,49% chỉ có 9,28 triệu USD so với tháng 9/2019, nhưng tăng 18,14% so với tháng 10/2018. Xuất sang Malaysia 10 tháng năm 2019 đạt 63,42 triệu USD, tăng 11,32% so với cùng kỳ năm trước, riêng tháng 10/2019 đạt 7,13 triệu USD, tăng 3,15% so với tháng 9/2019 và tăng 14,58% so với tháng 10/2018.

Ngoài ra, Việt Nam còn xuất sang các thị trường khác như Ấn Độ, Mỹ, Nhật Bản, ….

Nhìn chung, 10 tháng đầu năm 2019 kim ngạch xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sang các thị trường hầu hết đều tăng trưởng, trong đó xuất sang thị trường Nhật Bản tăng nhiều nhất 18,91% đạt 29,29 triệu USD, riêng tháng 10/2019 cũng đã xuất sang Nhật Bản 2,31 triệu USD, giảm 11,67% so với tháng 9/2019 và giảm 14,07% so với tháng 10/2018.

Ở chiều ngược lại, xuất sang thị trường Thái Lan giảm mạnh 24,74% tương ứng với 18,17 triệu USD, mặc dù trong tháng 10/2019 xuất sang thị trường Thái Lan tăng 44,88% so với tháng 9/2019 đạt 1,8 triệu USD.

Thị trường xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu 10 tháng năm 2019

Thị trườngTháng 10/2019 (USD)+/- so với tháng 9/2019 (%)*10 tháng năm 2019 (USD)+/- so với cùng kỳ năm 2018 (%)*
Trung Quốc15.122.62265,95157.757.490-17,25
Campuchia9.280.771-3,4983.643.8497,64
Malaysia7.136.2973,1563.424.77811,32
Ấn Độ4.623.03735,2354.118.232-9,65
Mỹ6.598.73445,4837.378.6665,8
Nhật Bản2.315.745-11,6729.299.91818,91
Đài Loan3.260.24944,9823.739.206-6,01
Philippines1.868.775-16,8520.257.2362,67
Hàn Quốc1.837.30612,5119.316.756-20,48
Thái Lan1.800.82144,8818.178.026-24,74
Bangladesh186.246-33,9210.734.2740,27
Indonesia1.106.25340,6110.624.5465,53
Singapore263.930-5,222.749.620-2,19

(*Tính toán số liệu từ TCHQ).Nguồn: VITIC 

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ