TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 10/2020

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo Bộ NN&PTNT, giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 10 năm 2020 ước đạt 29 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 10 tháng đầu năm 2020 ước đạt 256 triệu USD, giảm 21,4% so với cùng kỳ năm 2019. Trong 9 tháng đầu năm 2020 giá trị xuất khẩu sữa và các sản phẩm từ sữa đạt 71,09 triệu USD, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2019; Giá trị xuất khẩu thịt và phụ phẩm dạng thịt động vật đạt 63,87 triệu USD, giảm 47% so với cùng kỳ năm 2019; Giá trị xuất khẩu mật ong đạt 51,25 triệu USD, tăng 38,6% so với cùng kỳ năm 2019. Giá trị nhập khẩu chăn nuôi tháng 10 năm 2020 ước đạt 273 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu chăn nuôi 10 tháng đầu năm 2020 đạt 2,69 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, giá trị nhập khẩu sữa và các sản phẩm sữa ước tăng 4,6%, đạt 904 triệu USD, giá trị nhập khẩu các sản phẩm chăn nuôi khác ước tăng 45,7%, đạt 1,78 tỷ USD.

Chăn nuôi trâu, bò: Theo số liệu của TCTK, tình hình chăn nuôi trâu, bò trên cả nước trong tháng nhìn chung ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Theo ước tính của TCTK, đàn trâu cả nước tháng 10/2019 giảm 3,1%; đàn bò tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm 2018.

Chăn nuôi lợn: Giá lợn hơi trong tháng trên cả nước tăng cao (dao động quanh mức 60.000 đồng/kg) do nguồn cung bị giảm. Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng đàn lợn của cả nước tháng 10 năm 2019 giảm 20,0% so với cùng thời điểm năm 2018.

Chăn nuôi gia cầm: Đàn gia cầm cả nước trong tháng nhìn chung phát triển tốt. Do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu phi, nên nhiều hộ đã chuyển hướng từ chăn nuôi lợn sang gia cầm và các cơ sở chăn nuôi cũng chủ động tăng đàn gia cầm trước tình hình dịch bệnh ở lợn. Theo ước tính của TCTK, tổng số gia cầm của cả nước tháng 10 năm 2019 tăng 11,5% so với cùng thời điểm năm 2018.

Tình hình dịch bệnh

Theo báo cáo của Cục Thú y, tính đến ngày 23/10/2019, tình hình dịch bệnh xảy ra trên cả nước như sau:

Dịch cúm gia cầm:

Trong tháng 10/2019, cả nước xuất hiện 01 ổ dịch CGC A/H5N1 tại tỉnh An Giang và 01 ổ dịch CGC A/H5N6 tại tỉnh Kon Tum, cụ thể:

Tỉnh An Giang: Ngày 01/10/2019, dịch CGC A/H5N1 xảy ra tại 02 hộ chăn nuôi gà thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn. Tổng số gà mắc bệnh, chết và tiêu hủy là: 3000 con.

Tỉnh Kon Tum: Ngày 07/10/2019, dịch CGC A/H5N6 phát sinh tại 01 hộ chăn nuôi gà thuộc xã Đăk Kan, huyện Ngọc Hồi. Tổng số gà bị bệnh, chết và tiêu hủy là 980 con.

Hiện nay, cả nước có 01 ổ dịch CGC A/H5N1 tại xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang và 01 ổ dịch CGC A/H5N6 tại xã Đăk Kan, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum chưa qua 21 ngày.

Dịch lở mồm long móng: Trong tháng 10/2019, cả nước không phát sinh ổ dịch LMLM. Hiện nay, cả nước không có dịch bệnh LMLM.

Dịch tai xanh trên lợn: Trong tháng 10/2019, cả nước không phát sinh ổ dịch Tai xanh. Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh xảy ra.

Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP): Tính đến ngày 22/10/2019, bệnh DTLCP đã phát sinh thêm tại 238 xã, 3 huyện, số lợn buộc phải tiêu hủy là 348.673 con.

– Lũy kế từ đầu tháng 02/2019 đến ngày 22/10/2019, bệnh DTLCP đã xảy ra tại 8.296 xã thuộc 660 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 5.690.624 con; với tổng trọng lượng là 327.128 tấn (chiếm khoảng 8,3% tổng trọng lượng lợn của cả nước).

+ Có 4.615 xã thuộc 603 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 3.240.088 con chưa qua 30 ngày.

+ Có 3.681 xã thuộc 412 huyện của 56 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 2.450.536 con đã qua 30 ngày.

+ Có 573 xã thuộc 240 huyện của 47 tỉnh, thành phố có dịch bệnh đã qua 30 ngày nhưng sau đó lại phát sinh lợn bệnh.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 10 năm 2019 ước đạt 55 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 10 tháng đầu năm 2019 ước đạt 568 triệu USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2018. Chín tháng đầu năm 2019, giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ gia cầm đạt gần 21,8 triệu USD, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm 2018; Giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ lợn đạt 50,3 triệu USD, tăng 57,4% so với cùng kỳ năm 2018.

Giá lợn nạc giao tháng 10/2019 thị trường Chicago, Mỹ biến động giảm trong tháng qua với mức giảm 6,775 UScent/lb xuống còn 65,825 UScent/lb. Giá thịt lợn giảm do thị trường không chắc chắn về nhu cầu nhập khẩu thịt từ Trung Quốc. Trung Quốc đang phải đối mặt với tình trạng thiếu thịt lợn nghiêm trọng do dịch tả lợn châu Phi. Nhưng cho đến nay, các giao dịch mua thịt lợn của Hoa Kỳ từ phía Trung Quốc đã giảm nhiều so với mong đợi của một số thương nhân.

Trong tháng 10/2019, giá lợn hơi trong nước biến động tăng. Giá thịt lợn tăng do nhiều yếu tố tác động. Bên cạnh yếu tố nguồn cung giảm, một số hộ gia đình đã có xu hướng giữ đàn lợn để tăng trọng lượng cao hơn mới bán ra, tạo nên tâm lý thiếu nguồn cung cho thị trường. Tại miền Bắc, giá lợn hơi đang dao động 58.000 – 60.000 đ/kg, tăng 13.000 – 15.000 đ/kg. Trong đó, tại Tuyên Quang, Bắc Giang, Hà Nam, Hà Nội đạt 60.000 đ/kg. Các tỉnh Hưng Yên, Thái Nguyên 61.000 – 63.000 đ/kg; Nam Định, Hải Dương, Phú Thọ, Chương Mỹ, Sơn La thấp hơn 1.000 – 2.000 đ/kg, đạt mức 58.000 – 60.000 đ/kg. Tại miền Trung, Tây Nguyên giá lợn hơi tăng 9.000 – 16.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh đạt 60.000 đ/kg; tại Quảng Bình, Quảng Trị, Lâm Đồng, Bình Thuận 55.000 – 58.000 đ/kg; tại Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Đắk Lắk 50.000 – 53.000 đ/kg; các tỉnh Khánh Hoà, Bình Định đạt 47.000 – 48.000 đ/kg. Tại miền Nam giá lợn hơi tăng 11.000 – 17.000 đ/kg. Tại Tây Ninh giá lợn hơi 52.000 đ/kg; Long An, Bến Tre 54.000 đ/kg và 53.000 đ/kg; các địa phương còn lại như Bình Phước, Bình Dương, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang… đang ở mức 57.000 – 60.000 đ/kg, tương đương mức giá tại các tỉnh phía Bắc; trong khi, Đồng Nai, TP HCM, Tiền Giang, Trà Vinh đạt 53.000 – 55.000 đ/kg.

Trong khi đó, thị trường các sản phẩm gia cầm có những biến động trái chiều trong tháng qua. Giá gà thịt lông màu khu vực miền Bắc ổn định ở mức 42.000 – 45.000 đ/kg. Giá gà thịt lông màu khu vực miền Trung giữ mức 32.000 – 34.000 đ/kg. Trong khi đó, giá gà thịt lông màu khu vực miền Đông Nam Bộ và miền Tây Nam Bộ giảm 3.000 đ/kg xuống còn 24.000 – 28.000 đ/kg. Giá gà công nghiệp miền Bắc giảm 6.000 đ/kg xuống 21.000 đ/kg. Giá gà công nghiệp miền Trung giảm 4.000 đ/kg, hiện ở mức 16.000 đ/kg. Giá gà công nghiệp miền Đông Nam Bộ giảm 2.000 đ/kg xuống mức 18.000 đ/kg. Giá gà giảm do tổng đàn gia cầm tăng cao hơn so với cùng kỳ, nguồn cung dồi dào trong khi sức mua chậm.

Giá trứng gà miền Bắc và miền Trung giảm 50 – 100 đ/quả xuống còn 1.600 – 1.800 đ/quả. Giá trứng gà miền Đông Nam Bộ và miền Tây Nam Bộ giảm 50 – 100 đ/quả, hiện ở mức 1.350 – 1.450 đ/quả.

Dự báo, giá thịt lợn thời gian tới sẽ tăng do nhu cầu lớn dịp cuối năm.

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU 

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 10/2020 đạt 318 triệu USD, giảm 8,56% so với tháng trước đó và giảm 4,42% so với cùng tháng năm ngoái. 

Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 10/2020 vẫn là Argentina, Brazil, Mỹ và Trung Quốc… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 88 triệu USD, giảm mạnh 44,66% so với tháng trước đó và giảm 36,6% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL 10 tháng đầu năm 2020 lên gần 1,3 tỉ USD, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm gần 40% thị phần.

Kế đến là thị trường Brazil với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 10/2020 đạt hơn 60 triệu USD, tăng 84,42% so với tháng 9/2020 và tăng 59,11% so với tháng 10/2019. Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2020, Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 342 triệu USD, tăng 69,93% so với cùng kỳ năm 2019, chiếm 10,5% thị phần.

Đứng thứ ba là Mỹ với kim ngạch nhập khẩu đạt hơn 43 triệu USD, tăng 0,98% so với tháng 9/2020 song giảm 26,11% so với tháng 10/2019, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này lên 416 triệu USD, giảm 21,39% so với cùng kỳ năm 2019, chiếm 12,8% thị phần.

Tính chung, trong 10 tháng đầu năm 2020 Việt Nam đã chi hơn 3,2 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2019. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh trong thời gian này là: Chile với 17,1 triệu USD, tăng 160,05% so với cùng kỳ năm 2019, Mexico với 3,4 triệu USD, tăng 70,83% so với cùng kỳ năm 2019, Brazil với hơn 342 triệu USD, tăng 69,93% so với cùng kỳ, sau cùng là Bỉ với gần 10 triệu USD tăng 50,49% so với cùng kỳ năm 2019.

Nhập khẩu TĂCN& NLtháng 10/2020 theo thị trường

(Vinanet tính toán từ số liệu công bố ngày 12/11/2020 của TCHQ)

ĐVT: nghìn USD

Thị trườngT10/2020So vớiT9/2020 (%)10T/2020So với 10T/2019 (%)
Tổng KN318.391-8,63.249.7822,4
Argentina88.906-44,71.298.6531,3
Ấn Độ8.03851,7119.563-14,6
Anh 1.21527,1
Áo380144,52.409-3,0
Bỉ1.45397,39.96750,5
Brazil60.58484,4342.83869,9
UAE2.5611.051,924.96043,1
Canada684-36,911.326-73,9
Chile5.24715,917.128160,1
Đài Loan (TQ)7.334-5,877.91719,2
Đức419-46,08.452-2,6
Hà Lan1.4491,714.69622,8
Hàn Quốc5.43694,937.815-4,1
Mỹ43.5191416.379-21,4
Indonesia6.993-9,269.169-2,6
Italia641-3117.721-55,4
Malaysia3.8631732.70422,8
Mexico260-15,93.42070,8
Nhật Bản320480,92.32239,2
Australia6067,911.277-51,2
Pháp3.137121,219.973-19,2
Philippin627-74,112.359-17,8
Singapore2.162-2,521.88143,2
Tây Ban Nha1.02637,07.546-7,0
Thái Lan6.9681,6115.83423,8
Trung Quốc14.641-14,5153.2750,7

Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật tháng 10/2020.

Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 10 tháng đầu năm 2020

Mặt hàng10T/2020So với 10T/2019
Lượng (nghìn tấn)Trị giá (nghìn USD)Lượng (%)Trị giá (%)
Lúa mì2.653680.76211,17,9
Ngô10.0031.996.3719,37,6
Đậu tương1.619652.4521617,6
Dầu mỡ động thực vật 709.991 23,9

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Lúa mì: Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 10/2020 đạt 498 nghìn tấn với kim ngạch đạt 124 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 10 tháng đầu năm 2020 lên hơn 2.653 nghìn tấn, với trị giá hơn 680 triệu USD, tăng 11,12% về khối lượng và tăng 7,86% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019.

Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 10 tháng đầu năm 2020 là Australia chiếm 23% thị phần; Mỹ chiếm 22%; Nga chiếm 20%; Canada chiếm 10% và Brazil chiếm 9%.

Thị trường nhập khẩu lúa mì đều tăng mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2019 là Mỹ và Brazil, trong khi thị trường Canada giảm 20,55% về lượng và giảm 23,37% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái; Australia giảm 30,2% về lượng và giảm 31,45% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái; Nga giảm 17,65% về lượng và giảm 13,48% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Trong 10 tháng đầu năm 2020, nhập khẩu lúa mì Mỹ tăng 140,87% về lượng và 144,41% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Đồng thời, nhập khẩu lúa mì Brazil tăng 176,01% về lượng và 149,45% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Đậu tương: Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 10/2020 đạt 180 nghìn tấn với trị giá hơn 79 triệu USD, đưa khối lượng và kim ngạch nhập khẩu đậu tương trong 10 tháng đầu năm 2020 lên 1.619 nghìn tấn và 652 triệu USD, tăng 15,98% về lượng và tăng 17,57% về trị giá so với năm 2019.

Ngô: Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 10/2020 đạt hơn 1,4 triệu tấn với trị giá đạt 276 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 10 tháng đầu năm 2020 lên hơn 10 triệu tấn, trị giá đạt gần 2 tỉ USD, tăng 9,33% về khối lượng và tăng 7,57% về trị giá so với năm 2019.

Tuy nhiên, nhập khẩu ngô trong 10 tháng đầu năm 2020 từ các thị trường chủ yếu đều giảm mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2019. Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 69,9% và 18,4% thị phần.

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ