Tình hình chăn nuôi cả nước tháng 10/2021

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, sản xuất chăn nuôi tháng 10 diễn ra trong điều kiện thời tiết có một số diễn biến bất thuận, mưa lớn, bão, lũ diễn ra ở nhiều nơi. Trong bối cảnh dịch Covid 19 còn diễn biến phức tạp, sản xuất chăn nuôi bị ảnh hưởng nhiều, nhất là chăn nuôi lợn, gia cầm gặp nhiều khó khăn do chi phí sản xuất tăng cao, giá thịt, nhất là thịt lợn hơi giảm sâu làm chăn nuôi thua lỗ, không tái đàn.

Chăn nuôi lợn đang gặp khó khăn do giá thịt lợn hơi trong tháng tiếp tục giảm sâu so với tháng trước. Theo số liệu của TCTK, tổng đàn lợn của cả nước tại thời điểm cuối tháng 10 giảm 1,5% so với cùng thời điểm năm 2020. Chăn nuôi gia cầm cũng gặp khó khăn khi chi phí sản xuất tăng, khâu lưu thông bị gián đoạn, nhu cầu thị trường giảm, lượng vật nuôi tồn trong chuồng cao. Theo ước tính của TCTK, tổng đàn gia cầm của cả nước tại thời điểm cuối tháng 10 giảm 1,2% so với cùng thời điểm năm 2020.

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi trong tháng 10 ước đạt 33 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu chăn nuôi 10 tháng đầu năm 2021 ước đạt 359 triệu USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa ước đạt 91 triệu USD, tăng 11%; thịt và phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật ước đạt 85 triệu USD, tăng 10,9%.

Chăn nuôi trâu, bò:

Theo số liệu của TCTK ước tính tổng đàn trâu của cả nước tại thời điểm cuối tháng 10 năm 2021 giảm 3,9%, tổng đàn bò tăng 1,1% so với cùng thời điểm năm 2020.

Chăn nuôi lợn:

Đang gặp nhiều khó khăn khi giá thịt lợn hơi trong tháng tiếp tục giảm sâu so với tháng trước. Giá thịt lợn hơi hiện đang dao động trong khoảng 35.000 – 42.000 đồng/kg (bằng khoảng 70 – 80% so với tháng trước). Với bối cảnh hiện tại, nhiều cơ sở chăn nuôi đã phải dừng nuôi, để trống chuồng do không còn đủ nguồn lực hoặc không dám nuôi tiếp. Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng đàn lợn của cả nước tại thời điểm cuối tháng 10 năm 2021 giảm 1,5% so với cùng thời điểm năm 2020.

Chăn nuôi gia cầm:

Cũng gặp nhiều khó khăn. Chi phí sản xuất tăng, khâu lưu thông bị gián đoạn, nhu cầu thị trường giảm, lượng vật nuôi tồn đọng trong chuồng cao, tình trạng thua lỗ kéo dài. Nhiều cơ sở chăn nuôi cũng giảm đàn hoặc tạm ngừng nuôi. Theo ước tính của TCTK, tổng đàn gia cầm của cả nước tại thời điểm cuối tháng 10 năm 2021 giảm 1,2% so với cùng thời điểm năm 2020.

Tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm

Theo báo cáo của Cục Thú y, tính đến ngày 20/10/2021 tình hình dịch bệnh trên cả nước cụ thể như sau:

Dịch Cúm gia cầm (CGC): Trong tháng 10, phát sinh 01 ổ dịch CGC A/H5N8 tại xã Tâm Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 44 con. Hiện nay, cả nước có 01 ổ dịch CGC A/H5N8 tại tỉnh Lạng Sơn chưa qua 21 ngày. Số gia cầm bị tiêu hủy là 44 con.

Dịch Lở mồm long móng (LMLM): Trong tháng 10, không phát sinh ổ dịch LMLM mới tại các địa phương. Hiện nay, cả nước không có dịch LMLM

Dịch Tai xanh: Trong tháng 10, cả nước không phát sinh ổ dịch Tai xanh tại các địa phương. Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.

Dịch Tả lợn châu Phi: Trong tháng 10, phát sinh 287 ổ dịch tại 122 huyện 38 tỉnh, thành phố; tổng số lợn tiêu hủy là 15.563 con. Hiện nay, cả nước có 629 ổ dịch tại 181 huyện của 42 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày; tổng số lợn tiêu hủy là 53.895 con.

Dịch viêm da nổi cục: Trong tháng 10, cả nước phát sinh 60 xã có dịch tại 31 huyện thuộc 8 tỉnh: Điện Biên, Khánh Hòa, Bình Dương, Bình Phước, Tiền Giang, Bến Tre, An Giang, Trà Vinh; tổng số trâu, bò mắc bệnh là 247 con, số trâu, bò tiêu hủy là 36 con. Hiện nay, cả nước có 491 ổ dịch tại 119 huyện của 28 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày; tổng số gia súc mắc bệnh là 35.049 con, số gia súc đã tiêu hủy là 4.766 con.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Giá lợn hơi biến động giảm do nguồn cung lớn trong khi nhu cầu chưa cao bởi nhiều bếp ăn trường học, công ty, nhà hàng hoạt động còn ít. Giá thu mua gia cầm tại trại biến động tăng tại các vùng miền trong tháng qua do việc tiêu thụ đã thuận lợi hơn trước. Giá trứng giảm do sức mua giảm.

Tại thị trường thế giới, giá lợn nạc giao tháng 12/2021 ở Chicago, Mỹ biến động giảm trong tháng qua với mức giảm 12,2 UScent/lb xuống mức 73,2 UScent/lb. Giá thịt lợn giảm do nguồn cung dồi dào, ngay cả khi tốc độ giết mổ lợn có dấu hiệu chậm lại.

Tại thị trường trong nước, trong tháng 10, giá lợn hơi biến động giảm so với tháng trước do nguồn cung nhiều trong bối cảnh nhu cầu thấp do các bếp ăn trường học, công ty, nhà hàng hoạt động còn ít. Tuy nhiên, vào những ngày gần đây, giá thịt lợn có dấu hiệu tăng nhẹ trở lại.

Cụ thể, tại các tỉnh phía Bắc giá lợn hơi tại miền Bắc giảm 10.000 đồng/kg, dao động trong khoảng 33.000 – 38.000 đồng/kg. Các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Nam Định, Phú Thọ, Thái Bình, Hà Nam, TP Hà Nội, Vĩnh Phúc, Ninh Bình và Tuyên Quang hiện thu mua trong khoảng 34.000 – 36.000 đồng/kg. Tỉnh Bắc Giang và Hưng Yên đang thu mua lợn hơi ở mức 37.000 đồng/kg và 38.000 đồng/kg.

Giá lợn hơi tại miền Trung, Tây Nguyên dao động trong khoảng 33.000 – 38.000 đồng/kg, giảm 11.000 – 12.000 đồng/kg. Trong đó, ở Thanh Hóa có mức giá 34.000 đồng/kg; ở Nghệ An có mức giá thấp nhất khu vực là 33.000 đồng/kg.

Giá lợn hơi tại miền Nam dao động trong khoảng 36.000 – 38.000 đồng/kg, giảm 9.000 – 10.000 đồng/kg so với tháng trước. Trong đó, TP HCM và Tây Ninh tiếp tục thu mua ở mốc thấp nhất khu vực là 36.000 đồng/kg, trong khi đó các tỉnh, thành phố khác giá lợn hơi ở mức 37.000-38.000 đồng/kg.

Giá thu mua gia cầm bán tại trại biến động tăng tại các vùng miền trong tháng qua do việc tiêu thụ đã thuận lợi hơn trước. Giá gà thịt lông màu ngắn ngày miền Bắc, miền Trung và miền Nam tăng 9.000 đồng/kg lên mức 37.000 – 38.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Bắc tăng 8.000 đồng/kg lên 29.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Trung và miền Nam tăng 13.000 đồng/kg lên 27.000 đồng/kg. Tuy nhiên, giá trứng gà miền Bắc và miền Trung giảm 350 – 400 đồng/quả xuống mức 1.300 – 1.700 đồng/quả.

Giá trứng gà miền Đông Nam Bộ và miền Tây Nam Bộ giảm 450 – 500 đ/quả xuống 1.300 – 1.500 đồng/quả. Nguyên nhân giá trứng giảm là do sau khi nới lỏng giãn cách xã hội, lượng mua trứng để trữ sẵn trong nhà giảm. Ngoài ra, đã qua Tết Trung thu, các cơ sở sản xuất cũng giảm nhu cầu mua trứng.

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi trong tháng 10 ước đạt 33 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu chăn nuôi 10 tháng đầu năm 2021 ước đạt 359 triệu USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa ước đạt 91 triệu USD, tăng 11%; thịt và phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật ước đạt 85 triệu USD, tăng 10,9%.

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

Tình hình xuất khẩu:

Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi: Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi trong tháng 10 ước đạt 33 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu chăn nuôi 10 tháng đầu năm 2021 ước đạt 359 triệu USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa ước đạt 91 triệu USD, tăng 11%; thịt và phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật ước đạt 85 triệu USD, tăng 10,9%.

Xuất khẩu thức ăn chăn nuôi:

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 10/2021 xuất khẩu thức ăn gia súc các loại của Việt Nam giảm 7,7% so với tháng 9/2021 nhưng tăng 3,7% so với cùng tháng năm 2020, đạt trên 78,98 triệu USD. Cộng chung cả 10 tháng năm 2021 kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này tăng mạnh 31,8% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 859,31 tỷ USD.

Việt Nam xuất khẩu thức ăn gia súc nhiều nhất sang thị trường Trung Quốc đạt 297,01 triệu USD, chiếm 34,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thức ăn gia súc của cả nước, tăng 75,3% so với cùng kỳ năm 2020. Riêng tháng 10/2021 kim ngạch tăng 22% so với tháng 9/2021 và tăng 22,5% so với tháng 10/2020, đạt 26,04 triệu USD.

Xuất khẩu thức ăn gia súc sang thị trường Campuchia chiếm 14,9%, đứng thứ 2 về kim ngạch, đạt 127,91 triệu USD, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm trước; Riêng tháng 10/2021 giảm 14,7% so với tháng 9/2021 nhưng tăng 13% so với tháng 10/2020, đạt 11,78 triệu USD.Đứng thứ 3 là thị trường Ấn Độ đạt 92,53 triệu USD, chiếm 10,8%, tăng mạnh 40,8% so với cùng kỳ; Riêng tháng 10/2021 sụt giảm mạnh 88,7% so với tháng 9/2021 và giảm 50,4% so với tháng 10/2020, đạt 2,97 triệu USD.

Nhìn chung, trong 10 tháng năm nay, xuất khẩu thức ăn gia súc sang tất cả các thị trường chủ đạo đều tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2020.

Xuất khẩu thức ăn gia súc 10 tháng năm 2021

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 13/11/2021)

ĐVT: USD

Thị trường xuất khẩu thức ăn gia súc 10 tháng năm 2021
Nguồn: Vinanet/VITIC

Tình hình nhập khẩu:

– Sản phẩm chăn nuôi NK:

Ước giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 10 đạt 249 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản pẩm chăn nuôi 10 tháng đầu năm 2021 đạt 2,9 tỷ USD, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, giá trị nhập khẩu sữa và các sản phẩm sữa ước đạt 1 tỷ USD, tăng 12,1%; giá trị nhập khẩu của thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật ước đạt 1,2 tỷ USD, tăng 18%.

– Thức ăn gia súc và nguyên liệu NK:

Theo TCHQ, 10 tháng năm 2021 kim ngạch nhập khẩu thức ăn gia súc tăng 29% so với cùng kỳ năm 2020, đạt gần 4,14 tỷ USD.

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, kim ngạch nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 10/2021 giảm 5,1% so với tháng 9/2021 nhưng tăng 22,6% so với tháng 10/2020, đạt 390,09 triệu USD. Tính chung cả 10 tháng năm 2021 kim ngạch tăng 29% so với cùng kỳ năm 2020, đạt gần 4,14 tỷ USD.

Thức ăn gia súc và nguyên liệu nhập khẩu từ Achentina – thị trường lớn nhất, trong tháng 10/2021 tiếp tục tăng mạnh 36,6% so với tháng 9/2021 và cũng tăng 94,4% so với tháng 10/2020, đạt 172,8 triệu USD; tính chung cả 10 tháng năm 2021 nhập khẩu từ thị trường này tăng 11,4% so với cùng kỳ, đạt gần 1,45 tỷ USD, chiếm 35% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.

Nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu từ thị trường Mỹ trong tháng 10/2021 giảm 32,5% so với tháng 9/2021 nhưng tăng 28,6% so với tháng 10/2020, đạt 55,95 triệu USD; nâng kim ngạch 10 tháng lên 692,36 triệu USD, tăng mạnh 66,3% so với cùng kỳ, chiếm 16,7%.Nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu từ thị trường Brazil trong tháng 10/2021 cũng giảm mạnh 64,5% so với tháng 9/2021 và giảm 59,7% so với tháng 10/2020, đạt 24,43 triệu USD nhưng kim ngạch 10 tháng lại tăng mạnh 42,2% so với cùng kỳ, đạt 487,37 triệu USD, chiếm 11,8% trong tổng kim ngạch.

Nhập khẩu thức ăn gia súc từ thị trường EU 10 tháng năm 2021 cũng tăng mạnh 47,4% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 337,76 triệu USD. Nhập khẩu thức ăn gia súc từ thị trường Đông Nam Á tăng 18%, đạt 297,29 triệu USD.

Trong 10 tháng năm 2021 nhâp khẩu thức ăn gia súc từ tất cả các thị trường chủ đạo đều tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm 2020.

Nhập khẩu thức ăn gia súc 10 tháng năm 2021

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 13/11/2021 của TCHQ)

ĐVT: USD

Nhập khẩu thức ăn gia súc 10 tháng năm 2021 tăng từ hầu hết các thị trường
Nguồn: Vinanet/VITIC

– Đậu tương:

10 tháng năm 2021 nhập khẩu đậu tương tăng mạnh cả về khối lượng, kim ngạch và giá so với cùng kỳ năm 2020, với mức tăng tương ứng 4,9%, 51,6% và 44,5%.

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu đậu tương trong tháng 10/2021 tiếp tục tăng cả về lượng, kim ngạch và giá so với tháng 9/2021, với mức tăng tương ứng 12%, 15,3% và 2,9%, đạt 160.746 tấn, tương đương 102,8 triệu USD, giá trung bình 639,5 USD/tấn; so với tháng 10/2020 thì giảm 10,9% về lượng, nhưng tăng 30,3% về kim ngạch và tăng 46,2% về giá.

Tính chung cả 10 tháng năm 2021 nhập khẩu đậu tương tăng mạnh cả về khối lượng, kim ngạch và giá so với cùng kỳ năm 2020, với mức tăng tương ứng 4,9%, 51,6% và 44,5%, đạt gần 1,7 triệu tấn, trị giá 989 triệu USD, giá trung bình 582,2 USD/tấn.

Đậu tương nhập khẩu chủ yếu từ Mỹ và Brazil; trong đó, nhập khẩu từ thị trường Brazil trong tháng 10/2021 tăng mạnh 82% về lượng và tăng 91,2% về kim ngạch, giá tăng 5% so với tháng 9/2021, đạt 132.098 tấn, tương đương 84,02 triệu USD, giá 636 USD/tấn; so với tháng 10/2020 thì cũng tăng mạnh 102% về lượng, tăng 189% về kim ngạch và giá tăng 43,2%. Tính chung, 10 tháng đầu năm nhập khẩu từ thị trường này tăng 13,2% về lượng, tăng 71,9% kim ngạch và giá tăng 51,9%, đạt 834.388 tấn, tương đương 492,83 triệu USD, giá 590,7 USD/tấn, chiếm trên 49% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước.

Nhập khẩu từ thị trường Mỹ trong tháng 10/2021 tiếp tục giảm 75% cả về lượng và kim ngạch nhưng tăng 1,6% về giá so với tháng 9/2021, đạt 15.526 tấn, tương đương 9,91 triệu USD, giá 638,2 USD/tấn. Tính chung cả 10 tháng đạt 764.232 tấn, tương đương 433,75 triệu USD, giá 567,6 USD/tấn, chiếm trên 44% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, tăng 9% về lượng, tăng 50,6% kim ngạch và tăng 38,2% về giá so với cùng kỳ năm trước.

Nhập khẩu đậu tương 10 tháng năm 2021

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 13/11/2021 của TCHQ)

Nhập khẩu đậu tương 10 tháng năm 2021 tăng 51,6% kim ngạch
Nguồn: Vinanet/VITIC

– Lúa mì:

Nhập khẩu lúa mì trong 10 tháng năm 2021 đạt 4,1 triệu tấn, trị giá 1,89 tỷ USD, giá trung bình 289,8 USD/tấn.

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu lúa mì của cả nước trong 10 tháng năm 2021 đạt 4,1 triệu tấn, trị giá 1,89 tỷ USD, giá trung bình 289,8 USD/tấn, tăng mạnh 62,9% về khối lượng, tăng 84% kim ngạch và tăng 12,9% về giá so với cùng kỳ năm 2020.

Riêng tháng 10/2021 đạt 373.001 tấn, tương đương 113,59 triệu USD, giá trung bình 304,5 USD/tấn, giảm 40% về lượng, giảm 41% kim ngạch và giảm 1,5% về giá so với tháng 9/2021; và cũng giảm 17% về lượng, nhưng tăng 0,8% về kim ngạch và tăng mạnh 21,7% về giá so với tháng 10/2020.

Australia là thị trường chủ đạo cung cấp lúa mì cho Việt Nam, chiếm 70% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước, với khối lượng 2,86 triệu tấn, tương đương 835,54 triệu USD, giá 292,3 USD/tấn, tăng rất mạnh 406,4% về khối lượng, tăng 430,9% kim ngạch và giá tăng 4,3%; Tuy nhiên, trong tháng 10/2021 lượng nhập khẩu sụt giảm mạnh 51% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 9/2021, nhưng giá tăng 2,6%, đạt 153.576 tấn, tương đương 50,25 triệu USD, giá 327,2 USD/tấn; so với tháng 10/2020 thì tăng rất mạnh 692% về lượng, tăng 823% về kim ngạch và giá tăng 16,5%.

Ngoài thị trường chủ đạo Australia, thì Việt Nam còn nhập khẩu lúa mì từ: Mỹ 190.470 tấn, tương đương 60 triệu USD, giảm 64,8% về khối lượng, giảm 59% kim ngạch so với cùng kỳ; nhập khẩu từ Brazil 229.518 tấn, tương đương 55 triệu USD, giarm trên 5% cả về khối lượng và kim ngạch, Ukraine 140.445, tương đương 40,35 triệu USD, giảm 21,9% về khối lượng, giảm 3,4% kim ngạch.

Nhập khẩu lúa mì 10 tháng năm 2021             

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 13/11/2021 của TCHQ)

Nhập khẩu lúa mì từ Australia 10 tháng năm 2021 tăng trên 400%
Nguồn: Vinanet/VITIC

– Ngô:

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu tháng 10 đạt 750 nghìn tấn với giá trị đạt 210 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 10 tháng đầu năm 2021 đạt 8,4 triệu tấn và 2,4 tỷ USD, giảm 15,4% về khối lượng nhưng tăng 19,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2020.

Nguồn nhập khẩu ngô của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2021 chủ yếu từ 3 thị trường: Achentina, Braxin và Ấn Độ chiếm 84,6% thị phần. Giá trị nhập khẩu ngô 9 tháng đầu năm 2021 từ Achentina tăng 0,3%, Braxin tăng 12,3% và Ấn Độ gấp 489,8 lần.

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ