TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 2/2022

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng Hai diễn ra trong điều kiện dịch bệnh COVID-19 vẫn diễn biến phức tạp, nguyên vật liệu đầu vào vẫn ở mức cao, đặc biệt giá xăng, dầu liên tục tăng đã ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất. Thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài ở các tỉnh phía Bắc đã ảnh hưởng đến vật nuôi. Trong tháng 2, đàn lợn và gia cầm cả nước phát triển ổn định, dịch bệnh lớn không xảy ra nhưng vẫn gặp khó khăn khi giá thức ăn chăn nuôi tiếp tục tăng, uớc tính tổng đàn lợn của cả nước tháng 2 tăng 2,9% so với năm 2021, đàn gia cầm tăng khoảng 2% so với cùng thời điểm năm trước.

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 2 ước đạt 28 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 2 tháng đầu năm 2022 ước đạt 54 triệu USD, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 16 triệu USD, tăng 11,1%; thịt và phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 17 triệu USD, tăng 3,6%.

Ước giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 2 đạt 221 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 2 tháng đầu năm 2022 đạt 470,2 triệu USD, giảm 14,3% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, giá trị nhập khẩu sữa và các sản phẩm sữa ước đạt 224,8 triệu USD, tăng 30,3%; giá trị nhập khẩu của thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật ước đạt 202,2 triệu USD, tăng 2,1%.

Chăn nuôi trâu, bò: Đợt rét đậm, rét hại tại khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ kéo dài từ giữa tháng Hai đến nay đã tác động tiêu cực đến đàn gia súc của người dân. Đặc biệt là tại khu vực miền núi phía Bắc, nhiều trâu, bò đã bị chết do giá rét. Theo số liệu ước tính của Tổng cục Thống kê (TCTK), tổng số trâu của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Hai năm 2022 giảm 2,4%; tổng số bò tăng 0,9% so với cùng thời điểm năm 2021.

Chăn nuôi lợn: Giá thịt lợn hơi trong tháng 2 không biến động nhiều so với tháng trước. Tình hình sản xuất tại các doanh nghiệp, trang trại, hộ chăn nuôi đang dần ổn định, nhất là ở các đơn vị chủ động được con giống, có liên kết tiêu thụ sản phẩm đầu ra và đảm bảo vệ sinh, an toàn sinh học. Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng số lợn của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 2 năm 2022 tăng 2,9% so với cùng thời điểm năm 2021.

Chăn nuôi gia cầm: Trong tháng 2, đàn gia cầm cả nước phát triển ổn định, dịch bệnh lớn không xảy ra nhưng vẫn gặp khó khăn khi thức ăn chăn nuôi tiếp tục tăng. Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng số gia cầm của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 2 năm 2022 tăng 2,0% so với cùng thời điểm năm 2021.

KH. Chan nuoi Viet Nam 2

Dịch bệnh: 

a) Bệnh Cúm gia cầm (CGC)
Trong tháng 02/2022, cả nước phát sinh 03 ổ dịch CGC A/H5N1 tại tỉnh Đồng Nai (01), và thành phố Hà Nội (02). Tổng số gia cầm mắc bệnh chết và tiêu hủy là 11.649 con.
Hiện nay, cả nước có 06 ổ dịch CGC A/H5N1 tại 04 tỉnh, thành phố: Quảng Nam (01), Quảng Bình (01), Đồng Nai (01) và Hà Nội (02) chưa qua 21 ngày; tổng số gia cầm mắc bệnh là 21.709 con, tổng chết và tiêu hủy là 22.860 con. Các ổ dịch CGC chủ yếu xảy ra tại hộ chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ, chưa được tiêm phòng vắc xin CGC. Các địa phương đã phát hiện, xử lý kịp thời, không để lây lan diện rộng.
b) Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP)
Trong tháng 02/2022, cả nước phát sinh 76 ổ dịch tại 42 huyện của 19 tỉnh, thành phố. Tổng lợn bị tiêu hủy là 1.407 con. Hiện nay, cả nước có 160 ổ dịch tại 68 huyện của 29 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày; số lợn mắc bệnh là 6.695 con; tổng lợn chết và tiêu hủy là 7.195 con.
c) Bệnh Lở mồm long móng (LMLM)
Trong tháng 02/2022, không phát sinh ổ dịch LMLM mới tại các địa phương. Hiện nay, cả nước không có dịch bệnh LMLM.
d) Bệnh Tai xanh
Trong tháng 02/2022, cả nước không phát sinh ổ dịch Tai xanh tại các địa phương.
Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.
e) Bệnh Viêm da nổi cục (VDNC)
Trong tháng 02/2022, cả nước phát sinh 12 ổ dịch tại 02 tỉnh Quảng Ngãi và Tiền Giang. Tổng số trâu, bò mắc bệnh là 23 con. Hiện nay, cả nước có 37 ổ dịch tại 06 huyện của 03 tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Bình và Tiền Giang chưa qua 21 ngày. Số gia súc mắc bệnh là 487 con; tổng gia súc chết và tiêu hủy là 68 con.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI TRONG NƯỚC

Tại thị trường thế giới, giá thịt lợn nạc giao tháng 4/2022 ở Chicago, Mỹ biến động tăng trong tháng qua, với mức 108,024 UScent/lb, tăng 13,35 UScent/lb so với tháng trước. Giá thịt lợn tăng là do nguồn cung giảm trong bối cảnh nhu cầu tăng mạnh.
Tại thị trường trong nước, trong tháng 2/2022, giá lợn hơi biến động giảm với mức giảm 4.000 đồng/kg. Tại miền Bắc: các tỉnh Phú Thọ và Hà Nam giao dịch ở giá thấp nhất khu vực là 53.000 đồng/kg. Các tỉnh thành còn lại, giá thu mua lợn hơi trong khoảng 54.000 – 55.000 đồng/kg. Giá lợn hơi tại miền Bắc dao động trong khoảng 53.000 – 55.000 đồng/kg.
Tại miền Trung, Tây Nguyên giá lợn hơi dao động trong khoảng 54.000 – 56.000 đồng/kg, giảm 1.000-2.000 đồng/kg. Cụ thể, ở Thanh Hóa và Quảng Nam giao dịch ở mức 55.000 đồng/kg, giảm 1.000đ/kg; tại Bình Định giá thu mua lợn hơi ở mức thấp nhất là 54.000 đồng/kg, giảm 2.000 đồng/kg, ngang bằng với Quảng Ngãi và Quảng Trị.
Tại miền Nam, giá lợn hơi dao động trong khoảng 54.000 – 56.000 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg so với tháng trước. Cụ thể, các tỉnh An Giang, Bình Phước và Vĩnh Long đang lần lượt thu mua lợn hơi với giá 54.000 đồng/kg và 55.000 đồng/kg.
Giá thu mua gà tại trại biến động tăng tại các vùng miền trong tháng qua do nguồn cung giảm. Giá gà thịt lông màu ngắn ngày tại miền Bắc, miền Trung và miền Nam tăng khoảng 13.000 đồng/kg, lên mức 46.000 – 47.000 đồng/kg.
Giá gà công nghiệp miền Trung và miền Nam tăng 8.000 – 9.000 đồng/kg, lên mức 25.000 – 26.000 đồng/kg. Giá trứng gà miền Bắc, miền Trung và miền Nam giảm 50 – 200 đồng/quả, xuống mức 1.550 – 2.100 đồng/quả. Giá trứng gà giảm do sức tiêu thụ chậm.

Về giá nguyên liệu TACN: so với tháng 12/2021, trong tháng 01/2022 và đầu tháng 02/2022, giá các nguyên liệu TACN chính như sau: ngô hạt 7.835,0 đ/kg (giảm 0,66%); khô dầu đậu tương 13.045,0 đ/kg (tăng 6,73%); DDGS 8.680,0 đ/kg (tăng 3,67%); bột cá 28.466 đ/kg (tăng 2,6%). Giá một sốnguyên liệu khác: Sắn lát 5.980,0 đ/kg (giảm 8,0%); cám mì 6.710,0 đ/kg (giảm 2,22%); Lysine HCl 44.558,0 đ/kg (tăng 17,69%); Methionine 69.171,0 đ/kg (tăng 5,16%).

Giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm tiếp tục tăng so với tháng 12/2021, cụthể: TAHH hoàn chỉnh cho lợn thịt 60kg đến xuất chuồng 12.790,0 đ/kg (tăng 1,26%); TAHH cho gà thịt lông trắng 12.790,0 đ/kg (tăng 0,49%); TAHH cho gà thịt lông màu 12.190,0 đ/kg (tăng 1,67%).

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

Sản phẩm chăn nuôi:

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi (thịt, trứng, sữa…) tháng 2 ước đạt 28 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 2 tháng đầu năm 2022 ước đạt 54 triệu USD, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 16 triệu USD, tăng 11,1%; thịt và phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 17 triệu USD, tăng 3,6%.

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

2 tháng đầu năm 2022 xuất khẩu nhóm hàng thức ăn chăn nuôi đạt 161,62 triệu USD, tăng mạnh 46,2% so với cùng kỳ năm 2021

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu nhóm hàng thức ăn chăn nuôi tháng 2/2022 giảm 6,9% so với tháng 1/2022 nhưng tăng mạnh 66,3% so với tháng 2/2021, đạt trên 77,96 triệu USD.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2022 xuất khẩu nhóm hàng này đạt 161,62 triệu USD, tăng mạnh 46,2% so với cùng kỳ năm 2021.

Thức ăn chăn nuôi xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Trung Quốc chiếm 52,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt trên 68,71 triệu USD, tăng mạnh 314,8% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó riêng tháng 2/2022 đạt 37,94 triệu USD, tăng 23,3% so với tháng 1/2022 và tăng mạnh 276,5% so với tháng 2/2021.

Đứng sau thị trường chủ đạo Trung Quốc là thị trường Campuchia chiếm tỷ trọng 12,4%, đạt gần 19,97 triệu USD, giảm 0,9%; riêng tháng 2/2022 xuất khẩu sang thị trường này đạt 8,61 triệu USD, giảm 24,2% so với tháng 1/2022 nhưng tăng nhẹ 1,3% so với cùng tháng năm trước.

Tiếp đến thị trường Mỹ trong tháng 2/2022 giảm 9,9% so với tháng 1/2022 nhưng tăng mạnh 111% so với tháng 2/2021, đạt 8,97 triệu USD; công chung cả 2 tháng đầu năm 2022 xuất khẩu sang thị trường này cũng tăng mạnh 33% so với cùng kỳ năm 2021; đạt 18,93 triệu USD, chiếm 11,7% trong tổng kim ngạch.

Xuất khẩu thức ăn chăn nuôi sang thị trường FTA RCEP 2 tháng đầu năm 2022 tăng mạnh 96% so với 2 tháng đầu năm 2021, đạt 124,87 triệu USD; Xuất khẩu sang thị trường FTA CPTTP tăng nhẹ 1,7%, đạt 14,15 triệu USD.

Xuất khẩu thức ăn chăn nuôi 2 tháng đầu năm 2022

(Theo số liệu công bố ngày 9/3/2022 của TCHQ). ĐVT: USD

Thị trường xuất khẩu thức ăn chăn nuôi 2 tháng đầu năm 2022

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU

Sản phẩm chăn nuôi:

Ước giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 2 đạt 221 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 2 tháng đầu năm 2022 đạt 470,2 triệu USD, giảm 14,3% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, giá trị nhập khẩu sữa và các sản phẩm sữa ước đạt 224,8 triệu USD, tăng 30,3%; giá trị nhập khẩu của thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật ước đạt 202,2 triệu USD, tăng 2,1%.

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

2 tháng đầu năm 2022 nhập khẩu thức ăn chăn nuôi đạt 627,86 triệu USD, giảm 7,9% so với cùng kỳ năm 2021.

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu nhóm hàng thức ăn chăn nuôi về Việt Nam tháng 2/2022 giảm 21,6% so với tháng 1/2022, đạt 275,87 triệu USD; so với tháng 2/2021 cũng giảm 12,5%.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2022 nhập khẩu nhóm hàng này đạt 627,86 triệu USD, giảm 7,9% so với cùng kỳ năm 2021, chiếm 1,14% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa các loại của cả nước.

Thức ăn chăn nuôi nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất có xuất xứ từ Achentina chiếm 27% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt gần 169,59 triệu USD, giảm 11,4% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó riêng tháng 2/2022 đạt 72,1 triệu USD, giảm 24,1% so với tháng 1/2022 nhưng tăng 4,1% so với tháng 2/2021.

Đứng sau thị trường chủ đạo Achentina là thị trường Brazil chiếm tỷ trọng 19,1%, đạt trên 119,96 triệu USD, tăng mạnh 981,8%; riêng tháng 2/2022 nhập khẩu từ thị trường này đạt 45,31 triệu USD, giảm 39% so với tháng 1/2022 nhưng tăng mạnh 631,9% so với cùng tháng năm trước.

Tiếp đến thị trường Mỹ trong tháng 2/2022 giảm 8,9% so với tháng 1/2022 và giảm mạnh 58,8% so với tháng 2/2021, đạt 40,16 triệu USD; công chung cả 2 tháng đầu năm 2022 nhập khẩu từ thị trường này cũng giảm mạnh 52,6% so với cùng kỳ năm 2021; đạt 84,24 triệu USD, chiếm 13,4% trong tổng kim ngạch.

Bên cạnh đó, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi từ EU 2 tháng đầu năm 2022 giảm 8,5% so với 2 tháng đầu năm 2021, đạt 62,83 triệu USD; Nhập từ thị trường Đông Nam Á tăng 9,4%, đạt 53,42 triệu USD.

Ở chiều ngược lại, xuất khẩu thức ăn chăn nuôi sang các thị trường trong tháng 2/2022 đạt 77,96 triệuUSD, giảm 6,9% so với tháng1/2022; tính chung 2 tháng đầu năm 2022 xuất khẩu đạt 161,62 triệu USD, tăng 46,2% so với cùng kỳ năm 2021. Như vậy Việt Nam nhập siêu nhóm hàng thức ăn chăn nuôi 466,24 triệu USD, giảm 18,4% so với cùng kỳ năm 2021.

Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi 2 tháng đầu năm 2022

(Theo số liệu công bố ngày 9/3/2022 của TCHQ)

Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi 2 tháng đầu năm 2022 sụt giảm

Đậu tương:

2 tháng đầu năm 2022 cả nước nhập khẩu 372.758 tấn đậu tương, trị giá 230,12 triệu USD, giá trung bình 617,3 USD/tấn.

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu đậu tương các loại của cả nước trong tháng 2/2022 đạt 187.856 tấn, tương đương 117,64 triệu USD, giá trung bình 626,2 USD/tấn, tăng 1,2% về lượng, tăng 4,2% kim ngạch và tăng 2,9% về giá so với tháng 1/2022; so với tháng 2/2021 thì giảm 13,2% về lượng, giảm 0,2% về kim ngạch nhưng tăng 15% về giá.

Tính chung cả 2 tháng đầu năm 2022 cả nước nhập khẩu 372.758 tấn đậu tương, trị giá 230,12 triệu USD, giá trung bình 617,3 USD/tấn, tăng 3,5% về khối lượng, tăng 20,2% kim ngạch và tăng 16% về giá so với cùng kỳ năm 2021.

Việt Nam nhập khẩu đậu tương chủ yếu từ thị trường Brazil và Mỹ, trong đó đáng chú ý trong 2 tháng đầu năm 2021 không nhập khẩu đậu tương từ Brazil, nhưng 2 tháng đầu năm 2022 nhập khẩu từ thị trường này chiếm trên 56% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, đạt 209.832 tấn, tương đương 130,19 triệu USD, giá 620,4 USD/tấn; trong đó riêng tháng 2/2022 lượng nhập khẩu đạt 136.698 tấn, tương đương 85,22 triệu USD, giá 623,5 USD/tấn, tăng mạnh 86,9% về lượng và tăng 89,5% về kim ngạch và giá tăng nhẹ 1,4% so với tháng 1/2022.

Nhập khẩu đậu tương từ thị trường Mỹ đạt 132.699 tấn, tương đương 80,09 triệu USD, giá 603,5 USD/tấn, giảm mạnh 61,2% về lượng, giảm 55,9% kim ngạch nhưng giá tăng 13,7%; riêng tháng 2/2022 giảm mạnh 58% cả về lượng và kim ngạch nhưng giá tăng nhẹ 3% so với tháng 1/2022, đạt 39.093 tấn, tương đương 24,09 triệu USD, giá 616,3 USD/tấn.

Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu đậu tương từ thị trường Canada trong 2 tháng đầu năm 2022 đạt 26.372 tấn, tương đương 17,1 triệu USD, giá 648,4 USD/tấn, tăng mạnh 95,4% về lượng, tăng 124% về kim ngạch và giá tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2021.

Nhập khẩu đậu tương từ các Campuchia trong 2 tháng đầu năm 2022 đạt 3.573 tấn, tương đương 2,56 triệu USD, tăng mạnh 495,5% về lượng và tăng 591,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2021.

Nhập khẩu đậu tương 2 tháng đầu năm 2022

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 9/3/2022 của TCHQ) 

Việt Nam nhập khẩu đậu tương chủ yếu từ Brazil và Mỹ

Lúa mì:

2 tháng đầu năm 2022 cả nước nhập khẩu 582.827 tấn lúa mì, trị giá trên  210,08 triệu USD, giá trung bình 360,5 USD/tấn.

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 2/2022 cả nước nhập khẩu 247.437 tấn lúa mì các loại về Việt Nam, trị giá trên 94,44 triệu USD, giá trung bình 381,7 USD/tấn, giảm 26,2% về lượng, giảm 18,3% kim ngạch nhưng tăng 10,7% về giá so với tháng 1/2022; so với tháng 2/2021 cũng giảm mạnh 37,3% về lượng, giảm 8% về kim ngạch nhưng tăng mạnh 46,7% về giá.

Tính chung trong cả 2 tháng đầu năm 2022 cả nước nhập khẩu 582.827 tấn lúa mì, trị giá trên 210,08 triệu USD, giá trung bình 360,5 USD/tấn, giảm 19,9% về khối lượng, nhưng tăng 11,9% kim ngạch và tăng 39,7% về giá so với 2 tháng đầu năm 2021.

Lúa mì nhập khẩu về Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ thị trường Australia, chiếm gần 57% trong tổng khối lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước, với 331.425 tấn, tương đương 119,05 triệu USD, giá 359,2 USD/tấn, giảm mạnh 31% về khối lượng và giảm 5,9% kim ngạch nhưng giá tăng mạnh 36,4%; riêng tháng 2/2022 lượng nhập khẩu giảm mạnh 49,8%, giảm 50% về kim ngạch và giảm 0,8% về giá so với tháng 1/2022, đạt 110.827 tấn, tương đương 39,61 triệu USD, giá 357,4 USD/tấn; so với tháng 2/2021 cũng giảm rất mạnh 58,4% về lượng, giảm 44% về kim ngạch nhưng giá tăng 34,5%.

Ngoài thị trường chủ đạo Australia, thì Việt Nam còn nhập khẩu lúa mì từ: Mỹ 75.841 tấn, tương đương 34,2 triệu USD, giá 451 USD/tấn, tăng mạnh cả về khối lượng, kim ngạch và giá so với cùng kỳ năm 2021, với mức tăng tương ứng 224%, 442,7% và 67,3%; nhập khẩu từ Brazil 99.357 tấn, tương đương 32,56 triệu USD, giảm 37,9% về khối lượng và giảm 11,9% kim ngạch; nhập khẩu từ Ấn Độ 7.700 tấn, tương đương 2,67 triệu USD; nhập khẩu từ Canada 2.185 tấn, tương đương 0,99 triệu USD.

Nhập khẩu lúa mì 2 tháng đầu năm 2022

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 9/3/2022 của TCHQ)

Nhập khẩu lúa mì 2 tháng đầu năm 2022 giảm về khối lượng, tăng kim ngạch

Ngô:

2 tháng đầu năm 2022 cả nước nhập khẩu trên 1,57 triệu tấn ngô, trị giá 504,18 triệu USD, giá trung bình 320,8 USD/tấn.

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu ngô các loại của cả nước trong tháng 2/2022 đạt 507.269 tấn, tương đương 163,91 triệu USD, giá trung bình 323,1 USD/tấn, giảm mạnh 52,3% về lượng, giảm 51,8% kim ngạch nhưng tăng 1,1% về giá so với tháng 1/2022; so với tháng 2/2021 cũng giảm 7,1% về lượng, nhưng tăng 11,7% về kim ngạch và tăng 20,2% về giá.

Tính chung cả 2 tháng đầu năm 2022 cả nước nhập khẩu trên 1,57 triệu tấn ngô, trị giá 504,18 triệu USD, giá trung bình 320,8 USD/tấn, giảm 7,1% về khối lượng, nhưng tăng 31,7% kim ngạch và tăng 41,8% về giá so với cùng kỳ năm 2021.

Việt Nam nhập khẩu ngô phần lớn từ thị trường Achentina, chiếm trên 52% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, đạt 819.200 tấn, tương đương 266,34 triệu USD, giá 325,1 USD/tấn; trong đó riêng tháng 2/2022 lượng nhập khẩu đạt 225.068 tấn, tương đương 73,91 triệu USD, giá 328,4 USD/tấn, giảm mạnh 62,2% về lượng và giảm 61,7% về kim ngạch nhưng giá tăng nhẹ 1,4% so với tháng 1/2022; so với tháng 2/2021 thì tăng mạnh cả về lượng, kim ngạch và giá, với mức tăng tương ứng 40,2%, 74,4% và 24,4%.

Đứng sau thị trường chủ đạo Achentina là thị trường Ấn Độ đạt 360.573 tấn, tương đương 111,15 triệu USD, giá 308,3 USD/tấn, tăng mạnh 159,6% về lượng, tăng 209,3% kim ngạch và giá tăng 19%; riêng tháng 2/2022 giảm mạnh trên 59% cả về lượng và kim ngạch nhưng giá tăng nhẹ 0,3% so với tháng 1/2022, đạt 103.840 tấn, tương đương 32,08 triệu USD, giá 308,9 USD/tấn.

Đáng chú ý nhập khẩu ngô từ thị trường Brazil trong 2 tháng đầu năm 2022 sụt giảm rất mạnh 78,6% về lượng, giảm 67,6% về kim ngạch nhưng giá tăng 51,6% so với cùng kỳ năm 2021, đạt 239.770 tấn, tương đương 75,47 triệu USD, giá 314,8 USD/tấn. Riêng tháng 2/2022 cũng giảm gần 22% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 1/2022, đạt 105.199 tấn, tương đương 33,24 triệu USD.

Nhập khẩu ngô 2 tháng đầu năm 2022            

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 9/3/2022 của TCHQ)

Nhập khẩu ngô 2 tháng đầu năm 2022 tăng mạnh về kim ngạch và giá

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ