TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 3/2018

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo Bộ NN&PTNT, trong tháng 3/2018 tình hình chăn nuôi bò cả nước phát triển khá do có thị trường tiêu thụ tốt, giá bán thịt bò hơi ở mức khá cao, người chăn nuôi có lãi ổn định. Ước tính đàn bò tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2017; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tăng 3,2%. Chăn nuôi lợn, xu hướng giảm quy mô đàn tiếp tục diễn ra trên cả nước, nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đã treo chuồng, không còn chăn nuôi lợn. Ước tính tổng đàn lợn cả nước giảm khoảng 6,2% so với cùng thời điểm năm 2017. Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt, ước tính tổng số gia cầm của cả nước tăng khoảng 6,6% so với cùng kỳ năm 2017; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng quý I tăng 6,8%.

Chăn nuôi trâu, bò: Đợt rét đậm, rét hại từ tháng 1 đến đầu tháng 2 đã ảnh hưởng đến đàn gia súc ở một số tỉnh Miền núi phía Bắc. Theo Tổng cục Thống kê số gia súc chết rét tại một số tỉnh như sau: Điện Biên 2.308 con, Cao Bằng 1.590 con, Yên Bái 1.264 con, Lào Cai 1.022 con, Lạng Sơn 301 con, Hà Giang 273 con. Tổng đàn trâu vẫn giảm dần do hiệu quả kinh tế thấp, thời gian nuôi kéo dài và môi trường chăn thả bị thu hẹp. Đàn bò phát triển khá do có thị trường tiêu thụ tốt, giá bán thịt bò hơi ở mức khá cao, người chăn nuôi có lãi ổn định, đồng thời được sự hỗ trợ nguồn vốn, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi của các ngành, các cấp và chính quyền địa phương. Ước tính tổng số trâu của cả nước giảm 0,5%, đàn bò tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2017; sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng quý I tăng 0,6%, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Chăn nuôi lợn: Thời điểm trước Tết, giá thịt lợn hơi bán cho thương lái tăng khá, những tưởng đây là dấu hiệu tích cực cho người chăn nuôi có cơ hội tái đàn. Tuy nhiên sau Tết, giá thịt lợn hơi lại giảm xuống đáng kể khiến cho xu hướng giảm quy mô đàn tiếp tục diễn ra trên cả nước, nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đã treo chuồng, không còn chăn nuôi lợn. Theo Tổng cục Thống kê ước tính tổng đàn lợn cả nước giảm khoảng 6,2% so với cùng thời điểm năm 2017. Một số tỉnh có mức giảm tổng đàn lợn lớn là Huế giảm 16,1%, Trà Vinh giảm 15,4%, Vĩnh Long giảm 15,1%, Hà Tĩnh giảm 11,3%, Hòa Bình giảm 10,9%. Ước sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Theo kết quả điều tra 01/01/2018, một số tỉnh có mức giảm sản lượng lớn là Bắc Ninh giảm 8%, Thái Nguyên 11%; Thanh Hóa giảm 8,6%; Hà Tĩnh giảm 7%, Tây Ninh giảm 30,5%, Long An giảm 34%, Tiền Giang giảm 19,7%.

Chăn nuôi gia cầm: Trong những tháng đầu năm 2018, dịch bệnh gia cầm được kiểm soát, giá bán ổn định ở mức có lãi cho người chăn nuôi là những yếu tố khiến đàn gia cầm cả nước phát triển tốt. Do có thị trường tiêu thụ ổn định, nhiều cơ sở chăn nuôi lớn đã mạnh dạn mở rộng quy mô đàn, áp dụng kỹ thuật tiên tiến. Nhiều doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, mở rộng dây chuyền chế biến, nâng công suất xuất khẩu thịt gà đi thị trường nước ngoài. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước hiện tại tăng khoảng 6,6%; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng quý I tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2017.

KH. Chan nuoi Viet Nam 3

Dịch bệnh: Theo Cục Thú y – Bộ NN&PTNT, tính đến thời điểm 27/03/2018, tình hình dịch bệnh trong cả nước như sau:

 Dịch Cúm gia cầm (CGC)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Cúm Gia cầm.

Dịch Lở mồm long móng gia súc (LMLM)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch  LMLM.

Dịch Tai xanh trên lợn

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.

Nhận định tình hình dịch

Cúm gia cầm: Nguy cơ dịch phát sinh và lây lan trong thời gian tới là rất cao. Một số chủng vi rút cúm gia cầm chưa có ở Việt Nam (A/H7N9, A/H5N2, A/H5N8) có nguy cơ xâm nhiễm vào trong nước thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh, thành phố khác có tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu. Các địa phương cần chủ động trong công tác phòng, chống Cúm gia cầm; tăng cường kiểm soát và xử lý nghiêm việc nhập lậu gia cầm, giám sát chặt địa bàn để phát hiện và xử lý ổ dịch kịp thời.

Lở mồm long móng: Nguy cơ phát sinh các ổ dịch trên đàn gia súc chưa được tiêm phòng vắc xin LMLM hoặc đàn gia súc khỏe mạnh được vận chuyển đến vùng có ổ dịch cũ là rất cao. Do đó, các địa phương thuộc khu vực có nguy cơ cao, nơi có ổ dịch cũ, có đàn gia súc chưa được tiêm phòng triệt để, đặc biệt các địa phương có dự án cung ứng con giống gia súc, xóa đói giảm nghèo cần tăng cường giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, tổ chức tiêm phòng vắc xin LMLM, kiểm soát chặt việc vận chuyển gia súc, quản lý giết mổ gia súc để giảm thiểu nguy cơ phát sinh, lây lan dịch.

Tai xanh trên lợn: Trong thời gian tới, có thể xuất hiện các ổ dịch nhỏ lẻ trên địa bàn có ổ dịch cũ và khu vực có nguy cơ cao. Các địa phương cần tăng cường giám sát dịch bệnh trên đàn lợn, phát hiện sớm ổ dịch, thực hiện nghiêm các qui định về kiểm dịch vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tăng cường kiểm soát giết mổ lợn, chủ động ngăn chặn dịch phát sinh và lây lan.

Các địa phương căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút Cúm gia cầm, Tai xanh và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (văn bản số 2904/TY-DT ngày 28/12/2017) và thông báo lưu hành vi rút LMLM và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (công văn số 2168 /TY-DT ngày 05/10/2017) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

 

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI TRONG NƯỚC

Giá lợn hơi trên địa bàn cả nước có xu hướng giảm trong tháng 3/2018. Giá lợn tại miền Bắc giảm khoảng 1.000 – 3.000 đ/kg, dao động phổ biến từ 30.000 – 35.000 đ/kg, sức mua khá chậm. Tại Sơn La, giá lợn hơi giảm 3.000 đ/kg xuống còn 33.000 đ/kg. Tại các tỉnh chăn nuôi nhiều như Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định…, giá lợn hơi cũng giảm 2.000 đ/kg, dao động quanh mức 32.000 – 33.000 đ/kg. Tại Thái Nguyên, Yên Bái và Lào Cai cũng ghi nhận mức giảm 2.000 đ/kg xuống 32.000 đ/kg, Lào Cai giảm 3.000 đ/kg xuống 33.000 đ/kg.

Tại miền Trung, giá lợn hơi giảm 1.000 – 3.000 đ/kg xuống còn 29.000 – 34.000 đ/kg. Cụ thể, giá lợn hơi tại Hà Tĩnh giảm 1.000 đ/kg xuống 34.000 đ/kg; tại Khánh Hoà giảm 2.000 đ/kg xuống còn 31.000 đ/kg; tại Bình Thuận còn 29.000 đ/kg.

Tại miền Nam, giá lợn hơi toàn khu vực được thu mua trong khoảng 27.000 – 32.000 đ/kg, cũng giảm 1.000 đ/kg so với tháng trước.

Trái ngược với xu hướng giá thịt lợn, trong tháng 3/2018, giá gà thịt lông màu khu vực Đông Nam Bộ và ĐBSCL có xu hướng tăng với mức tăng 3.000 đ/kg lên 35.000 – 36.000 đ/kg.

Nhìn lại 3 tháng đầu năm, giá thịt lơn và gà thịt lông màu đều có xu hướng giảm với mức giảm lần lượt 5.000 đ/kg và 3.000 đ/kg so với thời điểm cuối năm 2017.

 

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

 

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 3/2018 đạt 342 triệu USD, tăng 40,13% so với tháng trước đó và tăng 11,13% so với cùng tháng năm ngoái.
Tính chung, trong quý 1/2018 Việt Nam đã chi 921 triệu USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 0,22% so với cùng kỳ năm trước đó.
Trong quý 1/2018, nhập khẩu TĂCN & NL của Việt Nam từ một số thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh, thứ nhất là Brazil với hơn 80 triệu USD, tăng 756,91% so với cùng kỳ, đứng thứ hai là Bỉ với gần 10 triệu USD, tăng 138,88% so với cùng kỳ, Mexico với hơn 1,3 triệu USD, tăng 129,13% so với cùng kỳ, sau cùng là Ấn Độ với hơn 68 triệu USD, tăng 68,09% so với cùng kỳ.
Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 3/2018 là Achentina, Mỹ, Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ,… Trong đó, Achentina là thị trường chủ yếu Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này với 101 triệu USD, tăng 8,13% so với tháng trước đó nhưng giảm 16,8% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN &NL từ nước này trong quý 1/2018 lên hơn 322 triệu USD, chiếm 35% trong tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này, giảm 21,33% so với cùng kỳ năm ngoái – đứng đầu về thị trường cung cấp TĂCN &NL cho Việt Nam. Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 3/2018 đạt hơn 81 triệu USD, tăng 162,68% so với tháng 2/2018 và tăng 173,69% so với cùng tháng năm trước đó. Tính chung, trong quý 1/2018 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN &NL từ thị trường này đạt hơn 147 triệu USD, tăng 16,07% so với cùng kỳ năm ngoái.
Kim ngạch nhập khẩu TĂCN &NL từ Achentina trong quý 1/2018 đạt mức cao nhất, do nguồn nguyên liệu từ thị trường này dồi dào – thị trường TĂCN &NL tiềm năng của Việt Nam.
Đứng thứ ba về kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu trong tháng 3/2018 là Brazil, với trị giá hơn 30 triệu USD, tăng 42,27% so với tháng trước đó và tăng mạnh 926,74% so với cùng tháng năm trước đó, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong quý 1/2018 lên hơn 80 triệu USD, tăng mạnh 756,91% so với cùng kỳ năm trước đó.
Ngoài ba thị trường trên còn kể đến thị trường Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan và UAE với kim ngạch đạt 68 triệu USD, 53 triệu USD, 28 triệu USD, 26 triệu USD, và 22 triệu USD theo thứ tự lần lượt.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu quý 1/2018

ĐVT: nghìn USD

Thị trường Q1/2017 T3/2018 Q1/2018 +/- So với T2/2018 (%) +/- So với Q1/2017 (%)
Tổng KN 919.871 342.831 921.908 40,1 0,2
Achentina 410.019 101.879 322.560 8,1 -21,3
Ấn Độ 40.546 14.880 68.154 -25,0 68,1
Anh 517 160 345 210,8 -33,2
Áo 27.899 666 1.797 17,9 -93,6
Bỉ 4.179 3.578 9.984 41,8 138,9
Brazil 9.347 30.819 80.098 42,3 756,9
UAE 26.435 9.448 22.329 46,6 -15,5
Canada 6.215 2.911 6.721 50,5 8,2
Chilê 2.824 253 888 -39,7 -68,5
Đài Loan 14.377 8.446 17.223 238,3 19,8
Đức 1.981 813 2.797 270,9 41,1
Hà Lan 7.464 1.595 4.588 3,2 -38,5
Hàn Quốc 7.946 4.666 10.291 133,3 29,5
Mỹ 126.787 81.118 147.164 162,7 16,1
Indonesia 27.111 7.596 28.297 1,5 4,4
Italia 21.433 3.687 11.557 -1,1 -46,1
Malaysia 7.541 2.710 8.084 59,9 7,2
Mexico 598 358 1.371 -17,8 129,1
Nhật Bản 1.827 293 515 52,9 -71,8
Australia 5.186 714 3.007 0,8 -42,0
Pháp 7.387 3.157 7.808 25,5 5,7
Philippin 6.551 2.125 4.924 217,7 -24,8
Singapore 4.655 1.761 4.277 41,9 -8,1
Tây Ban Nha 4.269 429 1.393 -3,2 -67,4
Thái Lan 19.929 13.864 26.452 135,5 32,7
Trung Quốc 38.339 16.637 53.692 44 40,0

Ngoài ra nguồn nguyên liệu sản xuất TĂCN còn bao gồm các loại: lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về các nguyên liệu sản xuất TĂCN trong quý 1/2018

Mặt hàng

Q1/2017 Q1/2018 So với cùng kỳ
Lượng (1000 tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (1000 tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (%) Trị giá (%)
Lúa mì 1.493 299.920 1.193 285.195 - 20,1 - 4,91
Ngô 1.510 307.514 1.933 371.059 28,05 20,66
Đậu tương 450 200.446 391 167.138 - 13,1 - 16,62
Dầu mỡ động thực vật 183.882 181.598 - 1,24

(Nguồn: Vinanet tổng hợp số liệu thống kê của TCHQ)

Lúa mì: 

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 3/2018 đạt 412 nghìn tấn với kim ngạch đạt 99 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong quý 1/2018 lên gần 1,2 triệu tấn, với trị giá 285 triệu USD, giảm 20,1% về khối lượng và giảm 4,91% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong quý 1/2018 là Australia, chiếm tới 40%; tiếp đến là Nga chiếm 35%, thị trường Canada chiếm 11%, thị trường Mỹ chiếm 6% và thị trường Brazil chiếm 4% trong tổng giá trị nhập khẩu lúa mỳ. Chỉ một số thị trường nhập khẩu lúa mì tăng mạnh cả về khối lượng và trị giá so với năm 2017 là Mỹ và Nga. Trong quý 1/2018, thị trường Nga và Mỹ tăng vượt trội cả về lượng và trị giá, với khối lượng nhập khẩu tăng hơn 8 lần, 25 lần và trị giá tăng gần 9 lần, gần 25 lần theo thứ tự lần lượt. Thị trường có lượng và trị giá nhập khẩu giảm giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2017 là Canada.

Đậu tương: 

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 3/2018 đạt 115 nghìn tấn với giá trị hơn 50 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong quý 1/2018 lên hơn 391 nghìn tấn và 167 triệu USD, giảm 13,1% về khối lượng và giảm 16,62% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Ngô: 

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 3/2018 đạt 445 nghìn tấn với trị giá đạt 88 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô quý 1/2018 đạt 1,9 triệu tấn và 371 triệu USD, tăng 28,05% về khối lượng và tăng 20,66% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Achentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính trong quý 1/2018, chiếm lần lượt là 72% và 25,4% tổng giá trị nhập khẩu. Đặc biệt, trong quý 1/2018 nhập khẩu ngô của thị trường Thái Lan giảm mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Sữa và SP từ sữa

Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, tháng 3/2018 Việt Nam đã nhập khẩu 102,7 triệu USD sữa và sản phẩm, tăng 102,8% so với tháng 2, nâng kim ngạch nhập khẩu sữa trong quý 1/2018 lên 231 triệu USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2017.
Quý 1/2018, Việt Nam nhập khẩu sữa chủ yếu từ New Zealand và các nước Đông Nam Á, chiếm 47,4% tổng kim ngạch, trong đó chủ yếu nhập từ New Zealand đạt 76,7 triệu USD, tăng 340,71% so với quý 1/2017, nếu tính riêng tháng 3/2018 kim ngạch nhập từ thị trường này đạt 35,3 triệu USD, tăng 89,7% so với tháng 2 và tăng 211,76% so với tháng 3/2017.
Đối với các nước Đông Nam Á, thì kim ngạch nhập khẩu so với cùng kỳ lại sụt giảm 41,13% tương ứng với 32,7 triệu USD.
Ngoài hai thị trường chủ lực kể trên Việt Nam còn nhập sữa và sản phẩm từ các thị trường như Hà Lan, Nhật Bản, Ba Lan….
Đặc biệt trong quý 1/2018 Việt Nam tăng nhập khẩu sữa từ thị trường Nhật Bản, tuy kim ngạch chỉ đạt 5,6 triệu USD nhưng tăng mạnh 69,03% so với quý 1/2017, nếu tính riêng tháng 3 đạt 3,3 triệu USD, tăng 318,73% so với tháng 2 và tăng 245,08% so với tháng 3/2017. Ngoài ra, nhập từ thị trường Mỹ cũng có mức độ tăng khá 54,84%, đạt 31,2 triệu USD, tính riêng tháng 3 đạt 13,6 triệu USD, tăng 131,89% so với tháng 2 và tăng 344,72% so với tháng 3/2017. Ở chiều ngược lại, Việt Nam giảm nhập khẩu từ các thị trường như: Bỉ, Ireland, Australia giảm lần lượt 63,78%l; 60,23% và 57,68% so với cùng kỳ tương ứng với 407,8 nghìn USD; 4,3 triệu USD và 6,1 triệu USD.
 

 

 

Sắn và các sản phẩm từ sắn XK:

Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 3 năm 2018 ước đạt 304 nghìn tấn với giá trị đạt 103 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 3 tháng đầu năm 2018 ước đạt 883 nghìn tấn và 280 triệu USD, giảm 27,3% về khối lượng và giảm 4,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Trong 2 tháng đầu năm 2018, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính, chiếm tới 90,8% thị phần, giảm 12,7% về khối lượng nhưng tăng 9,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ