TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 6/2018

TÌNH HÌNH CHUNG (mới cập nhật)

Theo Bộ NN&PTNT, sáu tháng đầu năm 2018, sản xuất toàn ngành tiếp tục tăng trưởng mạnh; tốc độ tăng trưởng vượt mục tiêu đã đề ra và đạt mức cao. Dự kiến GDP nông lâm thủy sản 6 tháng đầu năm tăng từ 3,95% – 4,05%, đạt mức tăng cao nhất trong 10 năm gần đây; giá trị sản xuất NLTS tăng trưởng 4,2%; trong đó, trồng trọt tăng 4,12%, chăn nuôi tăng 2,04%, lâm nghiệp tăng 5,21%, thuỷ sản tăng 6,49%. Kết quả trên lĩnh vực chăn nuôi cụ thể như sau:

Hoạt động sản xuất chăn nuôi nhìn chung thuận lợi, tuy đầu năm bị ảnh hưởng của đợt rét đậm kéo dài, nhưng do được dự báo trước và Bộ đã kịp thời phối hợp với các địa phương hướng dẫn người chăn nuôi chuẩn bị phòng, chống tốt nên thiệt hại không đáng kể; dịch bệnh trên vật nuôi được khống chế tốt, chủ yếu xảy ra nhỏ lẻ (hộ gia đình); thị trường tiêu thụ và giá các sản phẩm thịt bò, gia cầm ổn định; chăn nuôi lợn bắt đầu có dấu hiệu tái đàn khi giá thịt lợn hơi tăng cao. Một số sản phẩm chăn nuôi bước đầu đã xuất khẩu được sang những thị trường có yêu cầu cao về chất lượng và kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 6 năm 2018, ước đàn bò có 5,58 triệu con, tăng 2,2%, trong đó bò sữa có 310 nghìn con, tăng 5,6%; đàn trâu có 2,48 triệu con, giảm 1%; đàn gia cầm khoảng 378 triệu con, tăng 5,2%; đàn lợn có 26,42 triệu con, giảm 3% so với cùng kỳ năm 2017.

So với 6 tháng đầu năm 2017, sản lượng thịt hơi các loại ước đạt 3,27 triệu tấn, tăng 3,49%; trong đó, thịt bò đạt 185,4 nghìn tấn, tăng 2,2%; thịt trâu đạt 50,8 nghìn tấn, tăng 1,2%; thịt lợn đạt 2,19 triệu tấn, giảm 1%; thịt gia cầm đạt 608 nghìn tấn, tăng 6,1%; sữa đạt 470 nghìn tấn, tăng 8,2%; trứng đạt 6,27 tỷ quả, tăng 11,3%. Sản lượng thức ăn chăn nuôi đạt 9.053 nghìn tấn, tăng 5,7%.

KH. Chan nuoi Viet Nam 6

Dịch bệnh: Theo Cục Thú y – Bộ NN&PTNT, tính đến thời điểm 30/06/2018, tình hình dịch bệnh trong cả nước như sau:

 Dịch Cúm gia cầm (CGC)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Cúm Gia cầm.

Dịch Lở mồm long móng gia súc (LMLM)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch  LMLM.

Dịch Tai xanh trên lợn

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.

Nhận định tình hình dịch

Cúm gia cầm: Nguy cơ dịch phát sinh và lây lan trong thời gian tới là rất cao. Một số chủng vi rút cúm gia cầm chưa có ở Việt Nam (A/H7N9, A/H5N2, A/H5N8) có nguy cơ xâm nhiễm vào trong nước thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh, thành phố khác có tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu. Các địa phương cần chủ động trong công tác phòng, chống Cúm gia cầm; tăng cường kiểm soát và xử lý nghiêm việc nhập lậu gia cầm, giám sát chặt địa bàn để phát hiện và xử lý ổ dịch kịp thời.

Lở mồm long móng: Nguy cơ phát sinh các ổ dịch trên đàn gia súc chưa được tiêm phòng vắc xin LMLM hoặc đàn gia súc khỏe mạnh được vận chuyển đến vùng có ổ dịch cũ là rất cao. Do đó, các địa phương thuộc khu vực có nguy cơ cao, nơi có ổ dịch cũ, có đàn gia súc chưa được tiêm phòng triệt để, đặc biệt các địa phương có dự án cung ứng con giống gia súc, xóa đói giảm nghèo cần tăng cường giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, tổ chức tiêm phòng vắc xin LMLM, kiểm soát chặt việc vận chuyển gia súc, quản lý giết mổ gia súc để giảm thiểu nguy cơ phát sinh, lây lan dịch.

Tai xanh trên lợn: Trong thời gian tới, có thể xuất hiện các ổ dịch nhỏ lẻ trên địa bàn có ổ dịch cũ và khu vực có nguy cơ cao. Các địa phương cần tăng cường giám sát dịch bệnh trên đàn lợn, phát hiện sớm ổ dịch, thực hiện nghiêm các qui định về kiểm dịch vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tăng cường kiểm soát giết mổ lợn, chủ động ngăn chặn dịch phát sinh và lây lan.

Các địa phương căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút Cúm gia cầm, Tai xanh và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (văn bản số 2904/TY-DT ngày 28/12/2017) và thông báo lưu hành vi rút LMLM và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (công văn số 2168 /TY-DT ngày 05/10/2017) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI TRONG NƯỚC

Giá lợn hơi trong nước biến động giảm trong quý I/2018 nhưng đã tăng trở lại trong tháng 4 và tháng 5/2018. So với cuối năm 2017, giá lợn hơi tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long tăng 16.000 đ/kg lên 43.000 – 46.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại các tỉnh miền Bắc cũng tăng 11.000 – 12.000 đ/kg lên 43.000 – 47.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại miền Trung như Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam tăng 12.000 – 16.000 đ/kg lên 42.000 – 45.000 đ/kg. Giá lợn hơi tăng do nguồn cung giảm so với trước.

Trái ngược với xu hướng giá thịt lợn, giá thịt gà trong 5 tháng qua không có sự khởi sắc do nguồn cung tăng. So với cuối năm 2017, giá gà thịt lông màu khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long giảm 3.000 đ/kg xuống còn 37.000 – 38.000 đ/kg. Giá gà thịt hai khu vực này tăng nhẹ 1.000 đ/kg lên 28.000 – 29.000 đ/kg. Giá thu mua trứng gà tại trại vẫn giữ mức 1.850 đ/quả. Giá thu mua trứng vịt tăng nhẹ 50 – 100 đ/quả lên 2.200 – 2.350 đ/quả. Dự báo, giá thịt lợn trong tháng 6/2018 sẽ không tăng nhiều do vào mùa nóng, nhu cầu tiêu dùng thịt lợn giảm đi.

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 6/2018 đạt 372 triệu USD, tăng 8,91% so với tháng trước đó và tăng 12,96% so với cùng tháng năm ngoái.

Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 6/2018 là Brazil, Argentina, Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ,… Trong đó, Brazil  vượt Argentina trở thành thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với 102 triệu USD, tăng 33,17% so với tháng trước đó và tăng mạnh 286,4% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL từ nước này trong 6 tháng đầu năm 2018 lên hơn 287 triệu USD, chiếm 14,5% thị phần.

Kế đến là thị trường Argentina với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 6/2018 đạt hơn 73 triệu USD, giảm 22,09% so với tháng 5/2018 và giảm 62,31% so với cùng tháng năm trước . Tính chung, trong 6 tháng đầu năm 2018 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 651 triệu USD, giảm 21,11% so với cùng kỳ năm ngoái.

Đứng thứ ba là Mỹ, với kim ngạch nhập khẩu hơn 67 triệu USD, tăng 16,76% so với tháng trước đó và tăng mạnh 838,92% so với cùng tháng năm trước, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm 2018 lên hơn 321 triệu USD, tăng 90,77% so với cùng kỳ năm trước đó.

Tính chung, trong 6 tháng đầu năm 2018 Việt Nam đã chi gần 2 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước đó. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh  trong thời gian này là: Brazil với 287 triệu USD, tăng 322,55% so với cùng kỳ, Bỉ với 18 triệu USD, tăng 159,61% so với cùng kỳ, Mỹ với hơn 321 triệu USD, tăng 90,77% so với cùng kỳ, sau cùng là Hàn Quốc với hơn 24 triệu USD, tăng 51,21% so với cùng kỳ.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu TĂCN & NL 6 tháng đầu năm 2018

ĐVT: nghìn USD

Thị trường 6T/2017 T6/2018 +/- So với T5/2018 (%) 6T/2018 +/- So với 6T/2017 (%)
Tổng KN 1.771.733 372.100 8,9 1.982.595 11,9
Argentina 825.757 73.217 -22,1 651.452 -21,1
Ấn Độ 82.513 13.568 27,1 100.945 22,3
Anh 1.092 48 -32,2 666 -39,0
Áo 42.962 516 -40,1 3.544 -91,8
Bỉ 7.219 3.339 22,1 18.743 159,6
Brazil 68.152 102.118 33,2 287.980 322,6
UAE 40.368 8.328 292,3 37.883 -6,2
Canada 26.961 1.711 22,6 10.779 -60,0
Chile 4.690 2.854 222,8 6.136 30,8
Đài Loan 34.699 9.004 -14,5 43.747 26,1
Đức 3.682 929 25,2 5.094 38,4
Hà Lan 12.111 2.623 9,5 10.315 -14,8
Hàn Quốc 16.178 4.776 -10,8 24.462 51,2
Mỹ 168.308 67.210 16,8 321.080 90,8
Indonesia 61.057 8.397 14,8 50.786 -16,8
Italia 45.321 4.375 -21,6 25.849 -43
Malaysia 15.465 3.105 -3,7 16.751 8,3
Mexico 1.561 41 -83,7 2.162 38,5
Nhật Bản 2.613 672 125 1.849 -29,2
Australia 7.719 1.803 -1,7 7.730 0,1
Pháp 14.550 3.946 18,5 16.964 16,6
Philippin 8.960 795 -37,0 8.172 -8,8
Singapore 8.442 1.402 -6,3 8.293 -1,8
Tây Ban Nha 6.518 1.791 56,1 5.269 -19,2
Thái Lan 41.028 9.244 46,7 52.760 28,6
Trung Quốc 75.607 21.724 23,56 111.797 47,9

(Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Ngoài ra nguồn nguyên liệu sản xuất TĂCN còn bao gồm các loại: lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về các nguyên liệu sản xuất TĂCN trong 6 tháng đầu năm 2018

Mặt hàng

6T/2017 6T/2018 So với cùng kỳ
Lượng (1000 tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (1000 tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (%) Trị giá (%)
Lúa mì 2.574 529.865 2.763 657.419 7,3 24,1
Ngô 3.637 730.662 4.887 985.122 34,4 34,8
Đậu tương 924 401.381 836 365.526 -9,5 -8,9
Dầu mỡ động thực vật   349.660   355.513   1,7

(Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Lúa mì: 

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 6/2018 đạt 263 nghìn tấn với kim ngạch đạt 69 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 6 tháng đầu năm 2018 lên hơn 2,7 triệu tấn, với trị giá 657 triệu USD, tăng 7,34% về khối lượng và tăng 24,07% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 6 tháng đầu năm 2018 là Nga, chiếm 47% thị phần; Australia chiếm 29%, Canada chiếm 8%, Mỹ chiếm 6% và Brazil chiếm 3%.

Chỉ có một số thị trường nhập khẩu lúa mì tăng mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2017 là Mỹ và Nga. Trong 6 tháng đầu năm 2018, thị trường Nga về lượng tăng  hơn 23 lần và về trị giá tăng hơn 27 lần. Tương tự, Mỹ tăng lần lượt hơn 21 lần và 19 lần.

Đậu tương: 

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 6/2018 đạt 116 nghìn tấn với giá trị hơn 52 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong 6 tháng đầu năm 2018 lên hơn 836 nghìn tấn và 365 triệu USD, giảm 9,51% về khối lượng và giảm 8,93% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Ngô: 

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 6/2018 đạt hơn 792 nghìn  tấn với trị giá đạt 173 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 6 tháng đầu năm 2018 lên  gần 5 triệu tấn và 985 triệu USD, tăng 34,39% về khối lượng và tăng 34,83% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 52% và 10% thị phần. Đặc biệt, trong 6 tháng đầu năm 2018 nhập khẩu ngô của thị trường Thái Lan giảm mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

 

Sữa và SP từ sữa:

Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm từ sữa của Việt Nam trong tháng 5/2018 tăng trở lại so với tháng 4 tăng 2,2% đạt 86,1 triệu USD, nâng kim ngạch 5 tháng đầu năm 2018 lên 421,6 triệu USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2017.

New Zealand thị trường chính nhập khẩu sữa của Việt Nam chiếm 35,8% tỷ trong, tuy nhiên 5 tháng đầu năm 2018 kim ngạch nhập từ thị trường này chỉ tăng 75,96% đứng thứ hai sau Nhật Bản tăng 88,37%.

New Zealand tiếp tục là thị trường chính Việt Nam nhập khẩu sữa và sản phẩm, chiếm 35,8% tổng kim ngạch, với 151,1 triệu USD, tăng 75,96% so với cùng kỳ 2017, tính riêng tháng 5 kim ngạch nhập từ thị trường này 21,7 triệu USD giảm 33,17% so với tháng 4/2018 nhưng tăng 33,38% so với tháng 5/2017.

Đứng thứ hai là thị trường Singpaore với 49,2 triệu USD, giảm 2,23% so với cùng kỳ, nhưng tính riêng tháng 5/2018 lại tăng 14,2% so với tháng 4/2018. Kế đến là thị trường Mỹ, Đức, Thái Lan….
Nhìn chung, 5 tháng đầu năm 2018, tốc độ nhập khẩu sữa và sản phẩm từ các thị trường đều tăng trưởng kim ngạch, chiếm 52,9% trong đó nhập từ Nhật Bản tăng mạnh nhất 88,37% tuy kim ngạch chỉ đạt 11,8 triệu USD, tính riêng tháng 5/2018 kim ngạch nhập từ thị trường này đạt 3,9 triệu USD, tăng 81,21% so với tháng 4 và tăng đột biến gấp 2 lần (tức tăng 171,58%) so với tháng 5/2017. Ở chiều ngược lại, thị trường với kim ngạch suy giảm chiếm 47%, trong đó nhập từ Ireland và Đan Mạch giảm trên 50%, giảm lần lượt 53,86% và 52,13% tương ứng 6,7 triệu USD; 569,5 nghìn USD.
Thị trường nhập khẩu sữa 5 tháng đầu năm 2018
Thị trường T5/2018 (USD) +/- so với tháng 4 (%) 5T đầu năm 2018 (USD) +/- so với cùng kỳ 2017 (%)
New Zealand 21.706.022 -33,17 151.114.600 75,96
Singapore 12.348.943 14,2 54.633.853 -2,23
Hoa Kỳ 11.651.825 83,16 49.239.476 50,99
Đức 5.255.890 -32,47 26.304.688 25,54
Thái Lan 5.066.958 45,38 25.518.986 11,85
Hà Lan 3.728.772 -3,31 15.716.090 -13,93
Malaysia 3.440.522 3,46 14.876.406 -12,56
Pháp 3.115.945 47,15 13.872.456 5,56
Nhật Bản 3.967.381 81,21 11.857.280 88,37
Australia 2.100.149 -16,24 10.786.687 -39,18
Ba Lan 4.409.440 263,9 6.940.106 -49,59
Ireland 991.656 -27,52 6.734.304 -53,86
Tây Ban Nha 1.493.262 93,56 5.263.909 48,63
Hàn Quốc 1.364.053 30,84 4.565.400 17,91
Philippines 697.853 565,98 2.001.023 24,25
Bỉ 555.422 75,63 1.279.625 -9,95
Đan Mạch 129.218 76,2 569.552 -52,13
(Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)

Sắn và các sản phẩm từ sắn XK:

Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 5 năm 2018 ước đạt 200 nghìn tấn với giá trị đạt 91 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 4 tháng đầu năm 2018 ước đạt 1,3 triệu tấn và 460 triệu USD, giảm 25,6% về khối lượng nhưng tăng 7,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Trong 4 tháng đầu năm 2018, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính, chiếm tới 88,4% thị phần, giảm 25,5% về khối lượng nhưng tăng 2,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

 

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ