TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 6/2019

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo Bộ NN&PTNT, kết quả sản xuất kinh doanh toàn ngànhchăn nuôi 6 tháng đầu năm cho thấy xuất hiện nhiều khó khăn trong việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng ngành năm 2019, nhất là trong bối cảnh dịch tả lợn châu Phi lan rộng, tiếp tục có diễn biến phức tạp. Do đó, nhiệm vụ từ nay đến hết năm là hết sức nặng nề, khó khăn để đạt được mục tiêu tăng trưởng 6 tháng cuối năm và cả năm 2019 như kịch bản tăng trưởng đã đề ra. Do đó, trong những tháng cuối năm, ngành chăn nuôii điều chỉnh giảm tốc độ tăng giá trị sản xuất chăn nuôi từ 4,15% xuống còn 3,17%, tăng sản lượng chăn nuôi khác lên 11,5% (trong đó thịt gia cầm tăng 1,25 triệu tấn, tăng khoảng 14%; trứng gia cầm khoảng 13,02 tỷ quả, tăng trên 12%; sản lượng thịt bò tăng 7,%…).

KẾT QUẢ SẢN XUẤT CHĂN NUÔI 6 THÁNG

Chăn nuôi trâu, bò:

Tổng đàn trâu cả nước vẫn giảm dần do hiệu quả kinh tế không cao và môi trường chăn thả bị thu hẹp. Đàn bò phát triển khá do có thị trường tiêu thụ, giá bán thịt bò hơi ở mức tốt, người chăn nuôi có lãi ổn định. Chăn nuôi bò sữa phát triển tốt do nhiều tỉnh có đề án phát triển bò sữa. Theo số liệu của TCTK, ước tính tổng số trâu của cả nước trong tháng giảm 3,1%; tổng số bò tăng 2,6% so với cùng thời điểm năm 2018.

Chăn nuôi lợn:

Trong 6 tháng đầu năm 2019, ngành chăn nuôi lợn đã và đang đối mặt với cơn khủng hoảng lớn khi dịch tả lợn châu Phi xuất hiện và lan rộng. Vùng bị thiệt hại do dịch lớn nhất cả nước là Đồng bằng sông Hồng khi tổng số lợn bị tiêu hủy là 2,1 triệu con, chiếm 76,8% tổng số lợn bị tiêu hủy trên cả nước. Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng đàn lợn cả nước tháng 6 năm 2019 giảm 10,3%, trong đó riêng vùng ĐBSH tổng đàn giảm 31% so với cùng thời điểm năm 2018.

Chăn nuôi gia cầm:

Đàn gia cầm cả nước trong 6 tháng đầu năm 2019 nhìn chung phát triển tốt, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tháng 6 năm 2019 tăng 7,5% so với cùng thời điểm năm 2018.

Sản lượng thịt các loại:

Theo tính toán của TCTK, sản lượng thịt các loại 6 tháng đầu năm ước đạt cụ thể như sau:

 – Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 51,2 nghìn tấn, tăng 3%; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 192,5 nghìn tấn, tăng 3,8%; sản lượng sữa bò tươi 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 508,4 nghìn tấn, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2018. Một số tỉnh có tốc độ tăng sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2019 cao so với cùng kỳ 2018 là Đắk Nông 8,3%, Lào Cai 8,3%, Sơn La 8,3%, TP. Hồ Chí Minh 10,3%, Tiền Giang 13,4%, Lai Châu 15,9%, Gia Lai 28,6%.

 – Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 1,8 triệu tấn, giảm 4,7% so với cùng kỳ năm 2018.

– Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước đạt 660,9 nghìn tấn, tăng 8,6%; sản lượng trứng gia cầm ước đạt 7,0 tỷ quả, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2018.

Một số tỉnh có tốc độ tăng sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2019 cao so với cùng kỳ 2018 là Nam Định 15,4%, Đăk Nông 18,1%, Hải Phòng 19,9%, Long An 21,7%, Quảng Trị 27,3%, Bến Tre 27,6%, Cà Mau 30,3%, Lai Châu 32,4%.

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 6 năm 2019 ước đạt 61 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 320 triệu USD, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 2018. Năm tháng đầu năm 2019 giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ gia cầm đạt gần 10 triệu USD, giảm 14,1% so với cùng kỳ năm 2018; Giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ lợn đạt 31,67 triệu USD, tăng 79,6% so với cùng kỳ năm 2018.

KH. Chan nuoi Viet Nam 6

DỊCH BỆNH: 

Theo thông tin từ Cục Thú Y, tính đến ngày 23/6/2019:

-Dịch cúm gia cầm:

Cả nước còn 01 ổ dịch tại tỉnh Cao Bằng chưa qua 21 ngày.

– Dịch lợn tai xanh:

Hiện nay, cả nước không có dịch tai xanh xảy ra.

– Dịch lở mồm long móng:

hiện nay, cả nước không có dịch lở mồm long móng xảy ra.

– Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP):

Tính đến ngày 23/6/2019, bệnh DTLCP xảy ra tại 4.401 xã, 459 huyện của 60 tỉnh, thành phố (gồm: Hà Nội, Hà Nam, Điện Biên, Ninh Bình, Nam Định, Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, TT Huế, Khánh Hòa, Quảng Nam, Đắk Nông, Đồng Nai, Bình Phước, Hậu Giang, Hà Giang, Vĩnh Long, Bình Dương, An Giang, Đồng Tháp, Tuyên Quang, Gia Lai, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Đắk Lắk, Cà Mau, Bạc Liêu, Tiền Giang, Bình Định, Kon Tum, Trà Vinh, Bình Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Bình, Long An, Phú Yên, Bà Rịa – Vũng Tàu và Lâm Đồng); tổng số lợn bị bệnh buộc phải tiêu hủy là 2.827.498 con với trọng lượng là 166.105 tấn.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Tại thị trường thế giới, giá lợn hơi giao tháng 6/2019 thị trường Chicago, Mỹ biến động giảm trong tháng qua với mức giảm 9,675 UScent/lb xuống còn 76,25 UScent/lb. Giá lợn hơi giảm do nguồn cung tăng lên sau khi những người chăn nuôi lợn mở rộng đàn trong những năm gần đây.

Tình trạng dư cung đã làm lu mờ những kỳ vọng rằng Trung Quốc sẽ tăng cường nhập khẩu thịt lợn vào cuối năm nay và năm 2020 để bù đắp cho hàng triệu con lợn đã chết trong đợt bùng phát của dịch tả lợn châu Phi.

Trong 6 tháng qua, giá lợn hơi thị trường Chicago, Mỹ có xu hướng giảm với mức giảm 6,225 UScent/lb.

Trong tháng 6/2019, giá lợn hơi trong nước biến động tăng do lợn trong dân, nhất là các hộ nuôi nhỏ lẻ không còn nhiều bởi ảnh hưởng dịch tả lợn châu Phi nên xảy ra tình trạng khan hiếm lợn bán. Giá lợn hơi tại miền Bắc tăng 10.000 – 14.000 đ/kg.

Cụ thể, giá lợn hơi tại Hà Nam 37.000 đ/kg, Nam Định, Yên Bái 38.000 đ/kg. Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bắc Giang,… khoảng 37.000 – 40.000 đ/kg. Tương tự, giá lợn hơi tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên tăng 3.000 – 7.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại Thanh Hoá 38.000 đ/kg, Quảng Bình, Quảng Trị lần lượt 34.000 đ/kg và 33.000 đ/kg. Tỉnh Bình Thuận 35.000 đ/kg, những địa phương còn lại, giá khoảng 31.000 – 42.000 đ/kg. Tại miền Nam, giá lợn cũng tăng nhẹ 2.000 đ/kg. Tại Vĩnh Long, giá lợn hơi 35.000 đ/kg. Thủ phủ nuôi lợn Đồng Nai, giá dao động 36.000 – 38.000 đ/kg; tại Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ, Kiên Giang, Cà Mau 37.000 – 38.000 đ/kg. Vũng Tàu 38.000 đ/kg; tại Bến Tre, Trà Vinh, Bình Phước, Tây Ninh 31.000 – 35.000 đ/kg.

Trong 6 tháng đầu năm 2019, giá thịt lợn trong nước trong xu hướng giảm là chủ đạo do chịu ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi: so với cuối năm 2018, giá lợn hơi tại miền Bắc giảm 4.000 – 6.000 đ/kg; giá lợn hơi tại miền Trung và Tây Nguyên giảm 9.000 – 11.000 đ/kg; và giá lợn hơi tại miền Nam giảm 15.000 đ/kg.

Dự báo, giá thịt lợn thời gian tới sẽ tăng do nguồn thịt lợn sẽ thiếu hụt trong năm nay, đặc biệt dịp cuối năm. Việc thiếu hụt không chỉ xảy ra ở thị trường nội địa mà còn ở nhiều nước khác.

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

 

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU 

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 6/2019 đạt 301 triệu USD, giảm 14,73% so với tháng trước đó và giảm 17,91% so với cùng tháng năm ngoái.

 Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 6/2019 vẫn là Argentina, Mỹ, Brazil và Trung Quốc… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 132 triệu USD, giảm 14,3% so với tháng trước đó nhưng tăng 92,31% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL trong 6 tháng đầu năm 2019 lên hơn 702 triệu USD, chiếm 36,7% thị phần.

Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 6/2019 đạt hơn 34 triệu USD, giảm 18,19% so với tháng 5/2019 và giảm 48,69% so với tháng 6/2018. Tính chung, trong 6 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt  hơn 325 triệu USD, tăng 1,34% so với cùng kỳ năm 2018.

Đứng thứ ba là Brazil với kim ngạch nhập khẩu hơn 34 triệu USD, tăng 22,87% so với tháng 5/2019 nhưng giảm 66,34% so với tháng 6/2018, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm 2019 lên hơn 148 triệu USD, giảm 48,37% so với cùng kỳ năm 2018.

Tính chung, trong 6 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã chi hơn 1,9 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, giảm 3,19% so với cùng kỳ năm 2018. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh  trong thời gian này là: Canada với 26,5 triệu USD, tăng 146,79% so với cùng kỳ năm 2018, Australia với 16,9 triệu USD, tăng 118,96% so với cùng kỳ năm 2018, Thái Lan với hơn 62 triệu USD, tăng 18,49% so với cùng kỳ năm 2018, sau cùng là Argentina với hơn 702 triệu USD, tăng 8,61% so với cùng kỳ.

Nhập khẩu TĂCN & NL 6 tháng đầu năm 2019 theo thị trường

ĐVT: nghìn USD

Thị trường T6/2019 +/- So vớiT6/2018 (%) 6T/2019 +/- So với 6T/2018 (%)
Tổng KN 301.392 -14,7 1.913.675 -3,2
Argentina 132.290 -14,3 702.707 8,6
Ấn Độ 11.080 -19 97.994 -2,4
Anh 128 7,1 606 -8,9
Áo 99 -75,8 1.575 -55,6
Bỉ 195 -63,2 5.160 -72,3
Brazil 34.313 22,9 148.578 -48,4
UAE 3.378 1,3 13.727 -63,8
Canada 4.874 -20,8 26.580 146,8
Chile 113 -85,9 4.801 -21,8
Đài Loan (TQ) 6.256 -24,7 34.324 -21,7
Đức 846 23,1 5.163 2,2
Hà Lan 674 -52,1 8.584 -14,8
Hàn Quốc 4.437 -11,9 25.099 2,2
Mỹ 34.514 -18,2 325.323 1,3
Indonesia 5.596 62,3 35.424 -30,3
Italia 2.334 -32,1 26.053 1,1
Malaysia 1.641 -54,4 14.095 -15,9
Mexico 87 9,9 1.137 -47,9
Nhật Bản 317 54,12 1.320 -28,6
Australia 1.937. -39,74 16.926 119
Pháp 2.158 -18,90 16.327 -3,8
Philippin 1.194 -33,7 8.869 8,5
Singapore 1.376 -9,4 8.539 3,2
Tây Ban Nha 632 -7,9 5.707 8,3
Thái Lan 10.549 -22,7 62.708 18,5
Trung Quốc 16.812 -1,2 96.544 -13,5

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật trong 6 tháng đầu năm 2019.

Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 6 tháng đầu năm 2019

Mặt hàng

6T/2019 +/- So với 6T/2018
Lượng (nghìn tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (%) Trị giá (%)
Lúa mì 1.253 351.298 -54,4 -46,4
Ngô 4.582 957.674 -6,1 -2,6
Đậu tương 957 377.129 14,6 3,3
Dầu mỡ động thực vật 331.711 -6,7

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Lúa mì: 

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 6/2019 đạt 208 nghìn tấn với kim ngạch đạt 56 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 6 tháng đầu năm 2019 lên hơn 1,253 triệu tấn, với trị giá hơn 351 triệu USD, giảm 54,36% về khối lượng và giảm 46,35% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong  6 tháng đầu năm 2019 là Australia chiếm 41% thị phần; Nga chiếm 14%, Canada chiếm 19%, Brazil chiếm 7% và Mỹ chiếm không đáng kể 2%.

Hầu hết các thị trường nhập khẩu lúa mì đều giảm mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2018 là Nga, Mỹ và Australia. Trong 6 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu lúa mì Nga giảm 86,75% về lượng và giảm mạnh 83,68% về trị giá so với cùng kỳ. Tiếp theo là Mỹ giảm 75,38% về lượng và giảm 76,24% về trị giá so với cùng kỳ. Sau cùng là Australia giảm 32,26% về lượng và giảm 24,98% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Trong khi đó, Canada tăng 20,66% về lượng và tăng 22,08% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018; Brazil tăng mạnh 10,98% về lượng và 41,36% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Đậu tương: 

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 6/2019 đạt 188 nghìn tấn với trị giá hơn 72 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong 6 tháng đầu năm 2019 lên hơn 957 nghìn tấn và 377 triệu USD, tăng 14,56% về khối lượng và tăng 3,27% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Ngô: 

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 6/2019  đạt hơn 471 nghìn  tấn với trị giá đạt 95 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 6 tháng đầu năm 2019 lên hơn 4,5 triệu tấn, trị giá hơn 957 triệu USD, giảm 6,06% về khối lượng và giảm 2,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Tuy nhiên, nhập khẩu ngô trong 6 tháng đầu năm 2019 từ các thị trường chủ yếu đều tăng mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.  Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 60% và 37% thị phần.

Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, tháng 6/2019 nhập khẩu ngô của Việt Nam giảm cả lượng và trị giá so với tháng 5/2019, giảm lần lượt 58,9% và 59,5% tương ứng với 471,43 nghìn tấn, trị giá 95,53 triêụ USD.
Tính chung, từ đầu năm đến hết tháng 6/2019 Việt Nam đã nhập khẩu 4,5 triệu tấn ngô, trị giá 957,67 triệu USD, giảm 6,1% về lượng và giảm 2,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Xét về xuất xứ nguồn gốc, Achentina và Braxin là hai thị trường nhập khẩu ngô chính của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 61,0% và 37,11% tổng lượng ngô nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2019, cụ thể đã nhập từ Achentina đạt 2,79 triệu tấn, trị giá 575,44 triệu USD,tăng 5,36% về lượng và tăng 11,52% trị giá so với cùng kỳ, giá nhập bình quân 205,58 USD/tấn, tăng 5,85%. Riêng tháng 6/2019 cũng đã nhập từ thị trường Achentina 470,6 nghìn tấn ngô, trị giá 94,81 triệu USD, giảm 58,12% về lượng và giảm 58,7% về trị giá, giá nhập bình quân 201,46 USD/tấn; nếu so sánh với tháng 6/2018 thì đều tăng gấp trên 24 lần cả về lượng và trị giá.
Đối với thị trường Brazil, đây là thị trường có tốc độ tăng mạnh nhất so với 6 tháng đầu năm 2018, tăng gấp 3,4 lần về lượng (tức tăng 237,23%) và tăng gấp 3,7 lần về trị giá (tức tăng 272,31%), đạt trên 1,7 triệu tấn, trị giá 351,3 triệu USD, giá nhập bình quân 206,59 USD/tấn, tăng 10,4%.
Cũng theo số liệu từ TCHQ, trong 6 tháng đầu năm nay, lượng ngô nhập khẩu từ các thị trường hầu hết đều tăng trưởng.
Đáng chú ý, thời gian này Việt Nam giảm mạnh nhập khẩu ngô từ thị trường Ấn Độ và Lào, theo đó Ấn Độ giảm nhiều nhất 98,56% về lượng và 95,68% trị giá, tương ứng với 1,1 nghìn tấn, trị giá 816,2 nghìn USD, giá nhập bình quân 734,05 USD/tấn, tăng gấp gần 3 lần (tức tăng 198,89%) so với cùng kỳ. Riêng tháng 6/2019, lượng ngô nhập từ thị trường Ấn Độ sụt giảm cả về lượng và trị giá, giảm lần lượt 36,8% và 47,57%, giá nhập bình quân cũng giảm 47,57% so với tháng 5/2019 xuống còn 349,32 USD/tấn. Nếu so sánh với tháng 6/2018 thì cũng giảm 99,4% về lượng và 99,14% trị giá, mặc dù giá nhập bình quân tăng 42,65%.
Đối với thị trường Lào, giảm 83,45% về lượng và giảm 83,45% về trị giá, giá nhập bình quân không đổi so với cùng kỳ năm 2018, tương ứng với 120 tấn, 22,8 nghìn USD và giá bình quân 190 USD/tấn.
Hiện nay, sản lượng ngô thu hoạch của Việt Nam chỉ đáp ứng được khoảng 40-50% nhu cầu trong nước, còn lại là phải nhập khẩu. Thông thường, mỗi khi giá cả trong nước biến động tăng cao thì ngô được nhập khẩu để thay thế nguồn ngô trong nước và ngược lại, khi giá ngô trong nước rẻ hơn giá thị trường thế giới thì các nhà máy sản xuất sẽ đẩy mạnh tiêu thụ bằng nguồn trong nước.
Thị trường nhập khẩu ngô 6 tháng đầu năm 2019
Thị trường 6 tháng năm 2019 +/- so với cùng kỳ năm 2018 (%)*
Lượng (Tấn) Trị giá (USD) Lượng Trị giá
Achentina 2.799.078 575.448.200 5,36 11,52
Brazil 1.700.473 351.308.758 237,23 272,31
Thái Lan 4.853 12.730.969 45,17 29,82
Ấn Độ 1.112 816.269 -98,56 -95,68
Lào 120 22.800 -83,45 -83,45
(*Tính toán số liệu từ TCHQ)

Sữa và SP sữa NK:

Nhập khẩu sữa và sản phẩm 6 tháng đầu năm 2019 kim ngạch tăng so với kỳ, mặc dù trong tháng giảm. Đáng chú ý, thời gian này sản phẩm sữa của Việt Nam đã xuất khẩu sang Trung Quốc – thị trường hơn 1,4 tỷ dân. Dù Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 6 các nước châu Á về sản lượng sữa và đứng thứ 4 về năng suất của đàn bò sữa, nhưng sản xuất trong nước vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu và hàng năm vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn sữa và sản phẩm sữa để phục vụ tiêu dùng trong nước.
Năm 2018, Việt Nam đã nhập khẩu 962 triệu USD sữa và sản phẩm từ sữa. Theo số liệu thống kê từ TCHQ, sang năm 2019, sau khi giảm hai tháng liên tiếp, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm đã tăng trở lại trong tháng 5/2019 nhưng suy giảm trở lại ở tháng 6, giảm 22,6% tương ứng với 149,8 triệu USD.
Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 6/2019 kim ngạch mặt hàng này đạt 879,37 triệu USD, tăng 2,1% so với 6 tháng đầu năm 2018.
Kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm tính từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2019
ĐVT: USD

Nguồn:Tổng hợp số liệu từ TCHQ
Việt Nam nhập khẩu sữa và sản phẩm chủ yếu từ New Zealand, các nước Đông Nam Á và EU, tỷ trọng từ các thị trường này chiếm lần lượt 17,09%; 13,74% và 10,20%. So sánh với cùng kỳ năm trước, thì trong 6 tháng đầu năm nay kim ngạch nhập từ thị trường New Zealand giảm mạnh tới một nửa (34%), ngược lại nhập từ các nước Đông Nam Á và EU lại tăng, tăng lần lượt 9,7% và 8,4%.
Ngoài ba thị trường chủ lực kể trên, Việt Nam còn nhập khẩu từ các thị trước khác nữa như Singapore, Mỹ, Thái Lan, Đức….
Trong số những thị trường cung cấp sữa cho Việt Nam thì New Zealand đạt kim ngạch cao 150,29 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ năm 2018 giảm 10,41%, riêng tháng 6/2019 cũng giảm 34,51% so với tháng 5/2019 và giảm 19,18% so với tháng 6/2018 xuống còn 13,45 triệu USD.
Đứng thứ hai về kim ngạch là thị trường Mỹ 70,9 triệu USD, tăng 26,48% so với cùng kỳ 2018, trong đó tháng 6/2019 đã nhập từ Mỹ 13,88 triệu USD, giảm 19,85% so với tháng 5/2019 nhưng tăng gấp 2 lần (tương ứng 103,49%) so với tháng 6/2018.
Kế đến là các thị trường Singapore, Australia, Thái Lan, Đức, Pháp…
Nhìn chung, 6 tháng đầu năm 2019, kim ngạch nhập khẩu từ các thị trường hầu hết đều tăng trưởng, số thị trường này chiếm 77,78%, trong đó Việt Nam tăng mạnh nhập khẩu từ Bỉ, tuy chỉ đạt 2,8 triệu USD, chiếm 0,32% tỷ trọng nhưng so với cùng kỳ tăng gấp 2,1 lần (tương ứng 112,79%), riêng tháng 6/2019 cũng đã nhập từ Bỉ 806,8 nghìn USD, tăng 28,57% so với tháng 5/2019, nhưng so với tháng 6/2018 tăng đột biến gấp 12,14 lần (tương ứng 1114,55%).
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tăng mạnh nhập từ thị trường Australia đạt 26,85 triệu USD, tăng gấp 2 lần (tương ứng 104,47%), mặc dù trong tháng kim ngạch giảm 16,7% so với tháng 5/2019 và giảm 3,41% so với tháng 6/2018 xuống còn 2,26 triệu USD.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam giảm mạnh nhập từ thị trường Đức, giảm 25,59% chỉ với 23,06 triệu USD, riêng tháng 6/2019 cũng giảm 5,09% so với tháng 5/2019 và giảm 17,79% so với tháng 6/2018 tương ứng với 3,91 triệu USD.
Thị trường nhập khẩu sữa và sản phẩm 6 tháng đầu năm 2019
Thị trường Tháng 6/2019 (USD) +/- so với tháng 5/2019 (%)* 6 tháng năm 2019 (USD) +/- so với cùng kỳ 2018 (%)*
New Zealand 13.451.847 -34,51 150.297.166 -10,41
Mỹ 13.882.344 -19,85 70.906.366 26,48
Singapore 10.037.804 -39,11 66.982.544 0,7
Thái Lan 5.258.809 102,87 29.365.673 2,04
Australia 2.260.307 -16,7 26.854.198 104,47
Đức 3.913.534 -5,09 23.067.838 -25,59
Pháp 3.591.229 -20,06 22.163.765 34,97
Nhật Bản 3.165.003 -41,99 21.181.944 33,61
Malaysia 3.211.336 -31,8 21.166.618 21,53
Hà Lan 2.545.102 -30,61 17.268.007 -7,29
Ireland 2.716.272 78,11 8.293.229 6,89
Thụy Sỹ 2.047.039 25,18 8.213.164
Ba Lan 1.614.265 -39,99 8.176.774 -23,35
Tây Ban Nha 552.828 -50,75 6.858.949 28,55
Hàn Quốc 1.011.603 -9,06 6.302.334 8,59
Philippines 598.327 21,46 3.328.535 54,75
Bỉ 806.848 28,57 2.864.304 112,79
Đan Mạch 161.782 -52,5 1.005.846 40,85
(*tính toán số liệu từ TCHQ)
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU 
Sữa và SP sữa xuất khẩu:
Khi nguồn cung đã đáp ứng thị trường nội địa, để tăng dư địa phát triển các doanh nghiệp ngành sữa đã chọn con đường xuất ngoại, dù cách tiếp cận thị trường khác nhau.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giai đoạn 2016 – 2018, giá trị xuất khẩu sữa và sản phẩm từ sữa của Việt Nam liên tục tăng. Cụ thể, từ con số 84,47 triệu USD năm 2016 tăng lên 82,65 triệu USD năm 2017 và 129,68 triệu USD năm 2018. Theo đó, giá trị kim ngạch xuất khẩu trung bình cả giai đoạn tăng trưởng là 27,37%. Riêng quý 1/2019 giá trị xuất khẩu sữa đạt 48,6 triệu USD. Trong đó, các thị trường chính là Iraq, Hongkong (TQ), Trung Quốc đại lục, Afganistan, Philppines và một số nước khác như: UAE, Lào, Myanmar, Nhật Bản…, theo nguồn tin từ Thời báo Tài chính.
Đạt được kết quả này do ngành sữa trong nước đã thực hiện tốt các yêu cầu kiểm dịch sản phẩm sữa của các nước khi nhập khẩu sản phẩm từ Việt Nam, bên cạnh đó đã có những biện pháp tổ chức thực hiện để kiểm dịch xuất khẩu sữa và sản phẩm từ Việt Nam sang các nước.
Nếu như năm 2015 cả nước mới chỉ có 3 doanh nghiệp đăng ký kiểm dịch xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa từ Việt Nam sang 10 nước, thì đến nay sữa Việt Nam đã có mặt tại gần 50 quốc gia trên thế giới. Hiện Việt Nam có khoảng 60 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh sữa với hơn 300 nhãn hàng, trong đó 10 doanh nghiệp có sản phẩm sữa xuất khẩu và chủ yếu là các công ty: Công ty sữa Việt Nam (Vinamilk) và TH true Milk, Mộc Châu Milk… .
Ngoài xuất khẩu, các doanh nghiệp sữa Việt Nam cũng đầu tư ra nước ngoài, theo đó Vinamilk đầu tư về ngành sữa sang Mỹ, New Zealand, Campuchia, Ba Lan, Lào, Myanmar và đang tìm kiếm, mở rộng thị trường sang EU, châu Phi và Nam Mỹ; TH true Milk đầu tư dự án khoảng 2,7 tỷ USD sang Nga để chăn nuôi, chế biến sữa…
Sau khi ký kết Nghị định thư về xuất khẩu sữa từ Việt Nam sang Trung Quốc ngày 26/4/2019, đến thời điểm này đã có 8 doanh nghiệp đã đăng ký xuất khẩu sữa sang Trung Quốc là Vinamilk, TH True Milk, Ba Vì Milk, Nestlé Việt Nam, Nutifood, Enovi và FrieslandCampina Việt Nam.
Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã khẩn trương xây dựng kế hoạch trển khai Nghị định thư này. Về giám sát an toàn thực phẩm, Bộ NN-PTNT đã phê duyệt kế hoạch quốc gia về kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm đối với sữa tươi nguyên liệu và sẽ triển khai lấy mẫu giám sát từ tháng 6/2019. Các doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch giám sát sữa nguyên liệu theo yêu cầu của Nghị định thư. Trong đó, các trang trại, hộ chăn nuôi bò sữa cần thực hiện đúng quy định theo “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sữa tươi nguyên liệu” – QCVN 01-186: 2017/BNNPTNT.

 

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ