TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 8/2018

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo Bộ NN&PTNT, trong tháng 8 dịch bệnh trên vật nuôi được khống chế tốt, thị trường tiêu thụ và giá các sản phẩm thịt bò, thịt gia cầm ổn định, thịt lợn duy trì mức giá cao, có lãi cho người chăn nuôi nên chăn nuôi tiếp tục phát triển.

Chăn nuôi trâu, bò:

Đàn trâu, bò trong tháng phát triển ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Đàn bò tăng do hiệu quả kinh tế cao và thị trường tiêu thụ tốt. Theo Tổng cục Thống kê ước tính đến tháng 8, tổng đàn trâu của cả nước giảm 1,3%, tổng đàn bò tăng 2,1% so với cùng thời điểm năm 2017.

Chăn nuôi lợn:

Giá lợn hơi trong tháng 8 tiếp tục duy trì ở mức cao trên phạm vi cả nước, đặc biệt là ở miền Bắc đang được thu mua trong khoảng 52.000 đồng đến 55.500 đồng/kg, so với năm 2017, giá lợn hơi ở thời điểm này đã tăng gấp đôi. Giá lợn bắt đầu tăng từ tháng Tư và giữ ở mức cao trong 2 tháng gần đây đã khiến các hoạt động tái đàn, quay trở lại nuôi diễn ra khởi sắc hơn trên khắp cả nước. Tuy vậy, nếu giá thịt lợn tiếp tục giữ ở mức cao sẽ làm tăng chỉ số giá tiêu dùng và giảm sức cạnh tranh của thịt lợn nội địa, nhất là trong bối cảnh thịt lợn ngoại nhập khẩu với giá rẻ hơn có xu hướng tăng. Ước tính đến tháng Tám, tổng đàn lợn cả nước tăng khoảng 0,2% so với cùng thời điểm năm 2017.

Chăn nuôi gia cầm:

Đàn gia cầm trong tháng 8 tiếp tục phát triển khá, thị trường tiêu dùng ổn định khiến người chăn nuôi yên tâm đầu tư, mở rộng quy mô đàn. Ước tính đến tháng Tám, tổng đàn gia cầm cả nước tăng 5,9% so với cùng thời điểm năm 2017.

Xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 8 tháng ước đạt 355 triệu USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2017. Riêng 7 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu các sản phẩm từ gia cầm đạt 17,5 triệu USD (tăng gấp 3 lần); sữa và các sản phẩm từ sữa đạt 70 triệu USD (tăng gấp 2,1 lần so với cùng kỳ năm 2017).

KH. Chan nuoi viet nam 8

 

Dịch bệnh: Theo Cục Thú y – Bộ NN&PTNT, tính đến thời điểm 28/08/2018, tình hình dịch bệnh trong cả nước như sau:

Dịch Cúm gia cầm (CGC)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Cúm Gia cầm.

Dịch Lở mồm long móng gia súc (LMLM)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch  LMLM.

Dịch Tai xanh trên lợn

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.

Nhận định tình hình dịch

Cúm gia cầm: 

- Nguy cơ dịch phát sinh và lây lan trong thời gian tới là rất cao. Một số chủng vi rút CGC (A/H7N9, A/H5N2, A/H5N8) có nguy cơ xâm nhiễm vào Việt Nam thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh, thành phố khác có tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu.

- Các địa phương cần chủ động trong công tác phòng, chống CGC; tăng cường kiểm soát và xử lý nghiêm việc nhập lậu gia cầm, giám sát chặt địa bàn để phát hiện và xử lý ổ dịch kịp thời; chủ động triển khai giám sát dịch bệnh để phát hiện sớm, cảnh báo và thực hiện các biện pháp ứng phó kịp thời khi phát hiện có dịch bệnh hoặc có mẫu giám sát cho kết quả dương tính với các chủng vi rút CGC có nguy cơ gây bệnh ở gia cầm và gây bệnh ở người; đồng thời căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút CGC và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (Công văn số 2904/TY-DT ngày 28/12/2017) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

Lở mồm long móng:

- Nguy cơ phát sinh các ổ dịch trên đàn gia súc chưa được tiêm phòng vắc xin LMLM hoặc đàn gia súc khỏe mạnh được vận chuyển đến vùng có ổ dịch cũ là rất cao.

- Các địa phương thuộc khu vực có nguy cơ cao, nơi có ổ dịch cũ, có đàn gia súc chưa được tiêm phòng triệt để, đặc biệt các địa phương có dự án cung ứng con giống gia súc, xóa đói giảm nghèo cần tăng cường giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, tổ chức tiêm phòng vắc xin LMLM, kiểm soát chặt việc vận chuyển gia súc, quản lý giết mổ gia súc để giảm thiểu nguy cơ phát sinh, lây lan dịch; đồng thời căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút LMLM và khuyến cáo sử dụng vắc xin năm 2018 (Công văn số 1635/TY-DT ngày 17/7/2018) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

Tai xanh trên lợn:

- Trong thời gian tới, có thể xuất hiện các ổ dịch nhỏ lẻ trên địa bàn có ổ dịch cũ và khu vực có nguy cơ cao.

- Các địa phương cần tăng cường giám sát dịch bệnh trên đàn lợn, phát hiện sớm ổ dịch, thực hiện nghiêm các qui định về kiểm dịch vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tăng cường kiểm soát giết mổ lợn, chủ động ngăn chặn dịch phát sinh và lây lan; đồng thời căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút Tai xanh và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (Công văn số 2904/TY-DT ngày 28/12/2017) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI TRONG NƯỚC

Trong tháng 8/2018, ngành chăn nuôi toàn cầu gặp nhiều khó khăn do tình hình dịch bệnh đang diễn biến phức tạp tại một số quốc gia trên thế giới. Tại Pháp, dịch bệnh than nghiêm trọng nhất trong vòng 20 năm qua bùng phát khi thiếu hụt vắcxin phòng bệnh và hiện đã lan ra 28 trang trại ở khu vực miền Đông Nam nước này.

Tại Canada, dịch tiêu chảy cấp trên lợn cùng với các lệnh kiểm soát môi trường của chính phủ nước này khiến sản lượng thịt lợn giảm.

Trong khi đó, tại Trung Quốc, sự bùng phát của dịch bệnh sốt heo châu Phi (ASF) đã làm dấy lên những lo ngại về nguy cơ ASF sẽ lan rộng ra khắp đàn lợn tại Trung Quốc, cũng như lan sang các nước khác ở châu Á. Theo Báo cáo của Tổ chức Thú y Thế giới, 615 con lợn đã bị nhiễm bệnh và 88 con bị chết, với gần 530 con bị tiêu hủy. Các nhà phân tích cho rằng trong ngắn hạn, các nông dân sản xuất nhỏ sẽ phải bán tháo đàn lợn, đẩy giá thịt lợn giảm. Vì vậy, trong thời gian tới, Việt Nam cần kiểm soát chặt các trường hợp đưa lợn từ Trung Quốc qua biên giới.

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 8 năm 2018 ước đạt 46 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 8 tháng đầu năm 2018 ước đạt 355 triệu USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2017. Bảy tháng đầu năm 2018 giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ gia cầm chiếm 17,5 triệu USD, tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ năm 2017 và chiếm 5,7% thị phần;

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ trâu, bò và lợn đạt 1,9 triệu USD và 24,3 triệu USD, giảm 60,4% và giảm 55,8% so với cùng kỳ năm 2017. Giá trị xuất khẩu phụ phẩm sau giết mổ giảm 1,9%; giá trị sữa và các sản phẩm từ sữa tăng gấp 2,1 lần so với cùng kỳ năm 2017 và thị phần chiếm lần lượt là 54,8% và 22.6%.

Giá trị nhập khẩu chăn nuôi 7 tháng đầu năm 2018 đạt 1,55 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2017, ước giá trị nhập khẩu chăn nuôi tháng 8 năm 2018 đạt 161,67 triệu USD, nâng giá trị nhập khẩu ngành hàng chăn nuôi 8 tháng đầu năm 2018 đạt 1,71 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2017.

Giá lợn hơi trong nước có xu hướng biến động mạnh trong tháng 8/2018. Sau khi tăng mạnh và có thời điểm chạm mốc 57.000 đồng/kg, là mức giá cao kỷ lục trong nhiều năm qua tại một số tỉnh miền Bắc như Hà Nội, Hải Dương trong 10 ngày đầu tháng 8, giá lợn hơi bắt đầu có dấu hiệu hạ nhiệt, chủ yếu nhờ vào việc Văn phòng Chính phủ và Bộ NN&PTNT liên tiếp đưa ra hướng dẫn bình ổn giá thịt lợn. Giá lợn hơi tại Hưng Yên giảm 4.000 đ/kg xuống còn 52.000 đ/kg. Tại Hà Nam, thủ phủ nuôi lợn miền Bắc, giá lợn hơi giảm khoảng 4.000 – 5.000 đ/kg xuống 50.000 – 51.000 đ/kg. Tại Bắc Ninh, giá lợn cũng giảm xuống còn 50.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại một số tỉnh như Phú Thọ, Thái Nguyên, Nam Định đồng loạt giảm 5.000 – 7.000 đ/kg, tại Phú Thọ đạt 49.000 đ/kg; Thái Nguyên và Nam Định còn 51.000 đ/kg. Tại Bắc Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, giá lợn đạt khoảng 47.000 – 48.000 đ/kg.

Tại miền Trung, Tây Nguyên giá lợn hơi cũng giảm từ 3.000 – 6.000 đ/kg xuống còn 47.000 – 50.000 đ/kg.

Giá lợn hơi tại một số tỉnh phía Nam như An Giang và Bến Tre giảm 1.000 đ/kg, xuống lần lượt 51.000 đ/kg và 49.000 đ/kg. Các địa phương khác, giá lợn hơi duy trì ổn định, với các tỉnh trọng điểm như Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu, Cà Mau … vẫn đạt mức 50.000 – 51.000 đ/kg; Tiền Giang đạt 52.000 đ/kg.

Dự báo giá thịt lợn trong nước vẫn ở mức cao trong một vài tháng tới, và có thể sẽ phải đối mặt với cạnh tranh gia tăng từ thịt nhập khẩu do ảnh hưởng bởi căng thẳng thương mại Mỹ-Trung khiến ngành thịt lợn Mỹ đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường khác. Do đó, ngành chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn cần cải tiến kỹ thuật, giảm giá thành để đảm bảo cạnh tranh với thịt nhập khẩu, và nâng cao chất lượng để hướng đến xuất khẩu.

 

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU

Thức ăn gia súc và nguyên liệu NK:

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 8/2018 đạt 302 triệu USD, tăng 30,08% so với tháng trước đó và tăng 30,51% so với cùng tháng năm ngoái.

Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 8/2018 là Mỹ, Argentina, Brazil, Trung Quốc,… Trong đó, Mỹ vượt Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 71 triệu USD, tăng 45,94% so với tháng trước đó và tăng mạnh 1.124,89% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL từ nước này trong 8  tháng đầu năm 2018 lên hơn 441 triệu USD, chiếm 17,6% thị phần.

Kế đến là thị trường Argentina với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 8/2018 đạt hơn 46 triệu USD, giảm 13,65% so với tháng 7/2018 và giảm 64,48% so với cùng tháng năm trước. Tính chung, trong 8 tháng đầu năm 2018 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 746 triệu USD, giảm 30,64% so với cùng kỳ năm ngoái.

Đứng thứ ba là Brazil, với kim ngạch nhập khẩu hơn 31 triệu USD, tăng 340,4% so với tháng trước đó và tăng mạnh 700,6% so với cùng tháng năm trước, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 8 tháng đầu năm 2018 lên hơn 326 triệu USD, tăng 321,48% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tính chung, trong 8 tháng đầu năm 2018 Việt Nam đã chi hơn 2,5 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 13,11% so với cùng kỳ năm trước. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh  trong thời gian này là: Brazil với 326 triệu USD, tăng 321,48% so với cùng kỳ, Chile với 17 triệu USD, tăng 151,31% so với cùng kỳ, Bỉ với hơn 20 triệu USD, tăng 148,6% so với cùng kỳ, sau cùng là Mỹ với hơn 441 triệu USD, tăng 143,7% so với cùng kỳ.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu TĂCN & NL 8 tháng đầu năm 2018

ĐVT: nghìn USD

Thị trường 8T/2017 T8/2018 +/- So với T7/2018 (%) 8T/2018 +/- So với 8T/2017 (%)
Tổng KN 2.220.082 302.131 30,1 2.511.163 13,1
Argentina 1.075.713 46.005 -13,7 746.085 -30,6
Ấn Độ 95.712 11.814 -18,1 126.713 32,4
Anh 1.283 240 283,7 969 -24,4
Áo 46.709 89 -85,8 4.268 -90,9
Bỉ 8.377 755 -45,1 20.827 148,6
Brazil 77.412 31.307 340,4 326.277 321,5
UAE 50.518 3.764 -4,9 45.606 -9,7
Canada 45.165 1.520 36,6 13.404 -70,3
Chile 6.769 7.071 85,9 17.013 151,3
Đài Loan 53.289 8.808 -10,9 62.446 17,2
Đức 5.149 645 -7,3 6.308 22,5
Hà Lan 14.562 2.503 57,94 14.404 -1,08
Hàn Quốc 23.750 4.029 -7,86 32.863 38,37
Mỹ 180.991 71.345 45,94 441.085 143,70
Indonesia 70.504 8.612 121,6 63.287 -10,2
Italia 50.303 4.620 60,6 33.280 -33,8
Malaysia 19.174 3.054 -49,1 25.803 34,6
Mexico 1.678 361 -24,7 3.003 78,9
Nhật Bản 3.248 260 -47,7 2.609 -19,7
Australia 8.247 1.728 100,8 10.319 25,1
Pháp 17.318 2.565 -25 22.950 32,5
Philippin 12.021 2.485 3,701 10.723 -10,8
Singapore 10.245 1.883 83,5 11.183 9,2
Tây Ban Nha 7.557 2.317 14,4 9.611 27,2
Thái Lan 53.458 12.362 29,9 74.607 39,6
Trung Quốc 100.572 24.534 9,7 158.553 57,7

(Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Ngoài ra nguồn nguyên liệu sản xuất TĂCN còn bao gồm các loại: lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về các nguyên liệu sản xuất TĂCN trong 8 tháng đầu năm 2018

Mặt hàng

8T/2017 8T/2018 So với cùng kỳ
Lượng (1000 tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (1000 tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (%) Trị giá (%)
Lúa mì 3.378 703.965 3.673 877.899 8,7 24,7
Ngô 4.820 958.008 6.078 1.245.578 26,1 30
Đậu tương 1.185 509.604 1.140 498.747 -3,9 -2,1
Dầu mỡ động thực vật 470.929 482.892 2,5

(Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Lúa mì: 

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 8/2018 đạt 581 nghìn tấn với kim ngạch đạt 136 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 8 tháng đầu năm 2018 lên hơn 3,6 triệu tấn, với trị giá 877  triệu USD, tăng 8,71% về khối lượng và tăng 24,71% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 8 tháng đầu năm 2018 là Nga, chiếm 53% thị phần; Australia chiếm 25%, Canada chiếm 9%, Mỹ chiếm 4% và Brazil chiếm 2%.

Chỉ có một số thị trường nhập khẩu lúa mì tăng mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2017 là Mỹ và Nga. Trong 8 tháng đầu năm 2018, thị trường Nga về lượng tăng  hơn 35 lần và về trị giá tăng hơn 41 lần. Tương tự, Mỹ tăng lần lượt hơn 15 lần và 14 lần.

Đậu tương: 

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 8/2018 đạt 124 nghìn tấn với giá trị hơn 54 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong 8 tháng đầu năm 2018 lên hơn 1,1 triệu tấn và 498 triệu USD, giảm 3,86% về khối lượng và giảm 2,13% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Ngô: 

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 8/2018 đạt hơn 631 nghìn  tấn với trị giá đạt 138 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 8 tháng đầu năm 2018 lên  hơn 6 triệu tấn và hơn 1,2 tỉ USD, tăng 26,08% về khối lượng và tăng 30,02% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 48% và 8% thị phần. Đặc biệt, trong 8 tháng đầu năm 2018 nhập khẩu ngô của thị trường Thái Lan giảm mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Sữa và SP sữa NK:

Kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm trong tháng 8/2018 tiếp tục đà tăng trưởng, New Zealand thị trường chủ lực cung cấp cho Việt Nam. Tại thị trường nội địa giá sữa kể từ ngày 1/8/2018 Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) tăng giá trong phạm vi 5%.
Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, tháng 8/2018 Việt Nam đã phải chi 88,6 triệu USD nhập khẩu sữa và sản phẩm, tăng 16,1% so với tháng 7/2018 – đây là tháng tăng thứ hai liên tiếp, nâng kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm 8 tháng 2018 lên 670,8 triệu USD, tăng 3,7% so với cùng kỳ 2017.
Việt Nam nhập khẩu sữa và sản phẩm chủ yếu từ thị trường New Zealand, chiếm 33,1% tỷ trọng đạt 222,3 triệu USD, tăng 47,27% so với cùng kỳ, tính riêng tháng 8/2018 kim ngạch nhập khẩu sữa từ thị trường này đạt 24 triệu USD, tăng 30,46% so với tháng 7/2018 và tăng 10,55% so với tháng 8/2017.
Thị trường cung cấp nhiều cho Việt Nam đứng thứ hai là Đông Nam Á, chiếm 22,7% tỷ trọng đạt 152,8 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ tốc độ nhập từ thị trường này giảm nhẹ 6,08%. Riêng tháng 8/2018 kim ngạch đạt 22,5 triệu USD, tăng 45,47% so với tháng 7/2018 nhưng giảm 6,7% so với tháng 8/2017.
Kế đến là các nước EU, chiếm 18,4% tỷ trọng đạt 124 triệu USD giảm 19,76% so với cùng kỳ, riêng tháng 8/2018 đạt 16 triệu USD, giảm 0,05% so với tháng 7/2018 và giảm 31,76% so với tháng 8/2017.
Tiếp theo là các nước Singapore, Mỹ, Đức, Thái Lan… Nhìn chung, 8 tháng đầu năm 2018 nhập khẩu sữa từ các thị trường đều suy giảm kim ngạch, chiếm 58,8% trong đó giảm nhiều nhất là Ireland 43,18% tương ứng với 10,8 triệu USD, tính riêng tháng 8/2018 kim ngạch nhập từ thị trường này giảm 48,1% so với tháng 7/2018 chỉ với trên 1 triệu USD và giảm 20,55% so với tháng 8/2017.
Thị trường với kim ngạch tăng trưởng chỉ chiếm 41,1%, trong đó những thị trường có tốc độ tăng mạnh phải kể đến: Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Cơ cấu 10 thị trường chủ lực nhập khẩu sữa và sản phẩm 8T/2018

Sắn và các sản phẩm từ sắn XK:

Xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 8 ước đạt 87 nghìn tấn với giá trị 39 triệu USD, lũy kế xuất khẩu 8 tháng đầu năm ước đạt 1,67 triệu tấn và 633 triệu USD, giảm 34,4% về lượng và 0,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017, mặc dù lượng sắn xuất khẩu sụt giảm mạnh so với năm 2017 nhưng giá sắn xuất khẩu trong nửa đầu năm 2017 lại tăng mạnh 48% so với cùng kỳ. Trong 8 tháng đầu năm, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính, chiếm tới 87,3% thị phần, giảm 27% về khối lượng nhưng tăng 7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Giá xuất khẩu sắn lát của Việt Nam (FOB) trong tháng 8 tăng nhẹ 5$ lên 237 USD/tấn, giá tinh bột sắn xuất khẩu được chào giá ở mức 505 USD/tấn (tăng 5 USD so với tháng trước) sau khi Thái Lan này tăng nhẹ giá chào bán 5 USD lên 490 USD/tấn trong tháng 8. Giá sắn lát xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc tăng nhẹ do ảnh hưởng từ bão số 4 khiến các tàu/đò chở tinh bột sắn từ miền Trung và miền Nam không ra được như dự kiến trong khi tồn kho tại Đông Hưng giảm mạnh, giá tinh bột sắn giao ngay tại Móng Cái tăng lên mức 3450 tệ/tấn (tăng 50 tệ/tấn). Tại Lạng Sơn, giá tinh bột sắn cao nhất đạt 3560 tệ/tấn. Sang tháng 9 dự báo do đồng nhân dân tệ biến động thất thường, cộng với giá sắn và tinh bột thành phẩm tại Tây Ninh không giảm như dự kiến nên các thương nhân giao dịch thận trọng, không đầu cơ như những năm trước. Thị trường sắn lát được dư báo sẽ diễn ra sôi động khi mà nhu cầu sử dụng sắn lát tăng trong tháng 9 do nhiều xưởng chế biến thực phẩm hoạt động trở lại phục vụ cho dịp tết trung thu. Ngoài ra, sự hoạt động trở lại của các nhà máy cồn và hóa chất tại Trung Quốc cũng là yếu tố tích cực đóng góp và sự sôi động này.

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ