TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 7/2019

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo Bộ NN&PTNT, trong tháng 7/2019, chăn nuôi trâu, bò nhìn chung ổn định. Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt do có thị trường tiêu thụ, không có dịch bệnh lớn xảy ra, người chăn nuôi yên tâm mở rộng quy mô đàn, đặc biệt khi tình hình dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp, nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng gia cầm tăng mạnh do người dân đã chuyển sang sử dụng thay thế thịt lợn. Chăn nuôi lợn trong tháng Bảy tiếp tục gặp nhiều khó khăn do dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước và lây lan sang các cơ sở có quy mô chăn nuôi lớn. Tính đến ngày 22/7/2019, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 6.016 xã thuộc 558 huyện của 62 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tính đến tháng Bảy, đàn trâu cả nước giảm 3% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò tăng 2,6%; đàn gia cầm tăng 7,9%; đàn lợn giảm 16%. Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 7 năm 2019 ước đạt 63 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 7 tháng đầu năm 2019 ước đạt 388 triệu USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2018. Sáu tháng đầu năm 2019 giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ gia cầm đạt gần 12,5 triệu USD, giảm 9,5% so với cùng kỳ năm 2018; Giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ lợn đạt 38,1 triệu USD, tăng 96,4% so với cùng kỳ năm 2018.

Chăn nuôi trâu, bò:

Chăn nuôi trâu, bò trong tháng Bảy không có biến động lớn. Theo Tổng cục Thống kê ước tính đàn trâu của cả nước tháng Bảy năm 2019 giảm khoảng 3,0%; đàn bò tăng khoảng 2,6% so với cùng thời điểm năm 2018.

Chăn nuôi lợn:

Chăn nuôi lợn trong tháng Bảy tiếp tục gặp nhiều khó khăn do dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước và lây lan sang các cơ sở có quy mô chăn nuôi lớn. Ngoài số lượng lợn bị chết do dịch, nhiều hộ chăn nuôi cũng không tái đàn, nghỉ nuôi do vẫn nằm trong vùng có dịch, tâm lý lo ngại dịch. Một số cơ sở chăn nuôi quy mô lớn đã tạm ngừng tái đàn hoặc giảm quy mô nuôi so với trước đây. Vì vậy tổng đàn lợn hiện nay tiếp tục giảm mạnh. Theo Tổng cục Thống kê ước tính đàn lợn cả nước tháng Bảy năm 2019 giảm khoảng 16,0% so với cùng thời điểm năm 2018.

Chăn nuôi gia cầm:

Đàn gia cầm cả nước trong tháng Bảy nhìn chung phát triển tốt do thị trường tiêu thụ ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Trước tình hình dịch bệnh ở lợn vẫn diễn biến phức tạp, người tiêu dùng chuyển sang sử dụng thịt gia cầm và các loại trứng nhiều hơn đồng thời người chăn nuôi cũng chủ động tăng đàn gia cầm. Một số hộ tận dụng chuồng trống, nghỉ nuôi lợn chuyển sang nuôi gia cầm. Do đó đàn gia cầm cả nước đang có xu hướng tăng. Ước tính đàn gia cầm của cả nước tháng Bảy năm 2019 tăng khoảng 7,9% so với cùng thời điểm năm 2018.

Tình hình dịch bệnh

Theo báo cáo của Cục Thú y, đến ngày 22/7/2019, dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 6.016 xã thuộc 558 huyện của 62 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương1 với tổng số lợn tiêu hủy là 3.736.294 con với trọng lượng 211.544 tấn. Trong đó:

– 4.696 xã thuộc 549 huyện của 62 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 3.088.132 con chưa qua 30 ngày.

– 1.265 xã thuộc 308 huyện của 53 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 619.729 con đã qua 30 ngày.

– 169 xã thuộc 104 huyện của 31 tỉnh, thành phố có dịch bệnh đã qua 30 ngày nhưng sau đó lại phát sinh lợn bệnh.

 

KH. Thang 7

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 7 năm 2019 ước đạt 63 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 7 tháng đầu năm 2019 ước đạt 388 triệu USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2018. Sáu tháng đầu năm 2019 giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ gia cầm đạt gần 12,5 triệu USD, giảm 9,5% so với cùng kỳ năm 2018; Giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ lợn đạt 38,1 triệu USD, tăng 96,4% so với cùng kỳ năm 2018.

Giá lợn nạc giao tháng 8/2019 thị trường Chicago, Mỹ biến động tăng trong tháng qua với mức tăng 10,175 UScent/lb lên 86,175 UScent/lb. Giá lợn tăng do thị trường hy vọng rằng việc nối lại các cuộc đàm phán thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể thúc đẩy doanh số xuất khẩu thịt lợn của Hoa Kỳ sang Trung Quốc, khi quốc gia châu Á này đang cố gắng ngăn chặn sự bùng phát của dịch tả lợn châu Phi. Trong tháng 7/2019, giá lợn hơi trong nước biến động tăng tại miền Bắc do nguồn cung thịt lợn không còn dồi dào bởi ảnh hưởng từ dịch tả lợn châu Phi. Giá lợn hơi tại miền bắc tăng 2.000 – 6.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại Hà Nam, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang dao động trong khoảng 36.000 – 39.000 đ/kg; Hưng Yên, Nam Định, Hà Nội, Lào Cai, Thái Nguyên thu mua ở mức 40.000 – 41.000 đ/kg; tại Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Bắc Kạn, Hà Giang, Quảng Ninh, Điện Biên khoảng 42.000 – 45.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại miền Trung giảm nhẹ 1.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại Thừa Thiên Huế giảm còn 30.000 đ/kg, Quảng Trị cũng giảm nhẹ 1.000 đồng xuống 33.000 đ/kg, các địa phương khác, giá lợn hơi dao động trong khoảng 32.000 – 41.000 đ/kg, các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An và Bình Thuận đạt 40.000 – 41.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại miền Nam giảm 3.000 – 5.000 đ/kg do nhu cầu tiêu thụ ở mức thấp. Giá lợn tại Tây Ninh hiện là 29.000 đ/kg, Tiền Giang giảm còn 27.000 đ/kg. Tại Bến Tre, Đồng Nai giá lợn hơi dao động trong khoảng 28.000 – 29.000 đ/kg; các tỉnh Bình Phước, Vũng Tàu, Trà Vinh, Cần Thơ, Vĩnh Long, Hậu Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp đạt mức phổ biến 30.000 – 31.000 đ/kg. Long An, An Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu có giá cao hơn khoảng 1.000 – 2.000 đ/kg. Dự báo, giá lợn hơi thời gian tới sẽ tăng do nguồn cung thịt lợn không còn nhiều. Trong tháng 7/2019, giá thu mua gà và trứng tại trại giảm do nguồn cung dồi dào. Giá gà thịt lông màu tại Đồng bằng Sông Cửu Long giảm 1.000 đ/kg xuống còn 40.000 đ/kg. Giá gà thịt lông trắng tại khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long giảm 3.000 – 4.000 đ/kg, hiện ở mức 23.000 – 24.000 đ/kg. Giá trứng gà tại trại 1.450 – 1.550 đ/kg, giảm 100 đ/kg so với tháng trước.

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

 

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU 

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 7/2019 đạt 323 triệu USD, tăng 7,26% so với tháng trước đó và tăng 39,58% so với cùng tháng năm ngoái.
Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 7/2019 vẫn là Argentina, Mỹ, Brazil và Trung Quốc… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 152 triệu USD, tăng 14,96% so với tháng trước đó và  tăng 186,66% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL trong 7 tháng đầu năm 2019 lên hơn 853 triệu USD, chiếm 47% thị phần.

Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 7/2019 đạt hơn 37 triệu USD, tăng 8,24% so với tháng 6/2019 nhưng  giảm 23,38% so với tháng 7/2018. Tính chung, trong 7 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt  hơn 362 triệu USD, giảm 1,92% so với cùng kỳ năm 2018.

Đứng thứ ba là Brazil với kim ngạch nhập khẩu hơn 13 triệu USD, giảm 59,92% so với tháng 6/2019 nhưng tăng 96,74% so với tháng 7/2018, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 7 tháng đầu năm 2019 lên hơn 141 triệu USD, giảm 51,84% so với cùng kỳ năm 2018.

Tính chung, trong 7 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã chi hơn 2,2 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 0,32% so với cùng kỳ năm 2018. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh  trong thời gian này là: Canada với 31,8 triệu USD, tăng 168,12% so với cùng kỳ năm 2018, Australia với 18,3 triệu USD, tăng 113,4% so với cùng kỳ năm 2018, Phillippin với hơn 10 triệu USD, tăng 30,12% so với cùng kỳ năm 2018, sau cùng là Argentina với hơn 853 triệu USD, tăng 21,94% so với cùng kỳ.

Nhập khẩu TĂCN & NL 7 tháng đầu năm 2019 theo thị trường

ĐVT: nghìn USD

Thị trường T7/2019 +/- So với

T7/2018 (%)7T/2019+/- So với 7T/2018 (%)Tổng KN323.287.5007,262.215.298.5860,32Argentina152.081.90214,96853.646.39521,94Ấn Độ14.979.64435,19112.973.744-1,65Anh80.743-37,08687.506-5,69Áo654.156557,112.229.248-46,65Bỉ290.32448,165.450.904-72,74Brazil13.751.355-59,92141.960.916-51,84UAE1.387.151-58,9415.114.873-63,88Canada5.282.6798,3831.863.280168,12Chile1.454.3071,187,006.256.256-37,07Đài Loan (TQ)10.529.56068,2944.813.902-16,48Đức848.2810,236.012.1144,61Hà Lan949.78440,769.428.476-19,14Hàn Quốc4.505.7321,5429.604.8562,32Mỹ37.360.0408,24362.683.133-1,92Indonesia8.720.24055,8344.145.229-19,26Italia2.809.21520,3128.862.8380,71Malaysia3.498.380113,1317.593.938-22,66Mexico448.808411,541.585.918-40,39Nhật Bản -100,001.333.637-43,23Australia1.407.551-27,3418.333.908113,40Pháp3.043.78241,0319.371.033-4,97Philippin1.849.59354,9010.719.56130,12Singapore1.453.8215,599.992.9247,63Tây Ban Nha764.93320,926.442.215-11,68Thái Lan10.302.392-2,3473.010.95316,93Trung Quốc15.685.758-6,70112.253.130-16,11

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật trong 7 tháng đầu năm 2019.

Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 7 tháng đầu năm 2019

Mặt hàng

7T/2019+/- So với 7T/2018Lượng (nghìn tấn)Trị giá (nghìn USD)Lượng (%)Trị giá (%)Lúa mì1.469409.580-51,5-43,4Ngô5.3401.110.097-1,80,4Đậu tương1.020402.8240.6-9,4Dầu mỡ động thực vật 392.025 -6,2

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Lúa mì: 

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 7/2019 đạt 217 nghìn tấn với kim ngạch đạt 58 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 7 tháng đầu năm 2019 lên hơn 1,469 triệu tấn, với trị giá hơn 409 triệu USD, giảm 51,45% về khối lượng và giảm 43,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong  7 tháng đầu năm 2019 là Australia chiếm 38% thị phần; Canada chiếm 21%; Nga chiếm 12%, Mỹ chiếm 7% và Brazil chiếm 6%.

Hầu hết các thị trường nhập khẩu lúa mì đều giảm mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2018 là Nga, Mỹ và Australia. Trong 7 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu lúa mì Nga giảm 88,34% về lượng và giảm mạnh 85,76% về trị giá so với cùng kỳ. Tiếp theo là Mỹ giảm 26,6% về lượng và giảm 26,68% về trị giá so với cùng kỳ. Sau cùng là Australia giảm 29,2% về lượng và giảm 22,32% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Trong khi đó, Canada tăng 23,1% về lượng và tăng 24,97% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018; Brazil tăng mạnh 10,98% về lượng và 41,36% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Đậu tương: 

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 7/2019 đạt 68 nghìn tấn với trị giá hơn 28 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị 402 triệu USD, tăng 0,56% về khối lượng nhưng giảm 9,42% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Ngô: 

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 7/2019  đạt hơn 763 nghìn  tấn với trị giá đạt 153 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 7 tháng đầu năm 2019 lên hơn 5,3 triệu tấn, trị giá hơn 1,1 tỉ USD, giảm 1,83% về khối lượng nhưng tăng 0,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Tuy nhiên, nhập khẩu ngô trong 7 tháng đầu năm 2019 từ các thị trường chủ yếu đều tăng mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.  Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 63% và 34% thị phần.

Sữa và các SP từ sữa:

Sau khi kim ngạch sụt giảm ở tháng 6/2019, thì sang tháng 7/2019 nhập khẩu sữa và sản phẩm của Việt Nam từ các thị trường trên thế giới đã tăng trở lại, tăng 15,1% đạt 86,36 triệu USD.
Nâng kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm tính từ đầu năm đến hết tháng 7/2019 lên 606,80 triệu USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2018.
Việt Nam nhập khẩu sữa và sản phẩm chủ yếu từ New Zealand, các nước Đông Nam Á và EU, tỷ trọng từ các thị trường này chiếm lần lượt 28,96%; 23,78% và 17,62% trong 7 tháng năm 2019. So sánh với cùng kỳ năm trước, thì thời gian này nhập khẩu từ New Zeland và các nước Đông Nam Á đều sụt giảm lần lượt 5,41% và 0,98%, nhưng tăng ở các nước EU tới 11%.
Ngoài ba thị trường chủ lực kể trên, Việt Nam còn nhập khẩu từ các thị trước khác nữa như Singapore, Mỹ, Thái Lan, Đức….
Như vậy, 7 tháng đầu năm 2019 sữa và sản phẩm từ sữa xuất xứ New Zealand chiếm thị phần lớn, đạt 175,76 triệu USD, so với cùng kỳ năm 2018 giảm 5,42% nhưng trong tháng 7/2019 kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này tăng 89,28% so với tháng 6/2019 và tăng 38,31% so với tháng 7/2018 đạt 25,46 triệu USD.
Đứng thứ hai về kim ngạch là thị trường Singapore đạt 79,83 triệu USD, tăng 4,92% so với cùng kỳ năm trước, riêng tháng 7/2019 đạt 12,85 triệu USD, tăng 28,02% so với tháng 6/2019 và tăng 34,19% so với tháng 7/2018.
Kế đến là thị trường, mặc dù trong tháng kim ngạch giảm 69,43% so với tháng 6/2019 và giảm 55,87% so với tháng 7/2018 chỉ có 4,24 triệu USD, nhưng tính chung từ đầu năm đến hết tháng 7/2019 đạt 75,16 triệu USD, tăng 14,49% so với 7 tháng năm 2018.
Nhìn chung, 7 tháng đầu năm 2019, kim ngạch nhập khẩu từ các thị trường hầu hết đều tăng trưởng, số thị trường này chiếm 72,22%, trong đó Việt Nam tăng mạnh nhập khẩu từ Bỉ, tuy chỉ đạt 5,1 triệu USD, chiếm 0,8% tỷ trọng nhưng so với cùng kỳ tăng gấp 2,3 lần (tương ứng 129,92%), riêng tháng 7/2019 cũng đã nhập từ Bỉ 2,3 triệu USD, tăng gấp 2,9 lần (tương ứng 186,13%) so với tháng 6/2019 và tăng gấp 2,6 lần (tương ứng 155,43%) so với tháng 7/2018.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tăng mạnh nhập từ thị trường Australia đạt 31,71 triệu USD, tăng 85,17%, riêng tháng 7/2019 cũng đã nhập từ Australia 4,86 triệu USD, tăng gấp 2,2 lần (tương ứng 115,21%) so với tháng 6/2019 và tăng 20,32% so với tháng 7/2018.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam giảm mạnh nhập từ thị trường Ba Lan, giảm 23,48% chỉ với 10,60 triệu USD, nhưng trong tháng nhập từ Ba Lan lại tăng 50,47% so với tháng 6/2019 đạt 2,42 triệu USD và igamr 23,9% so với tháng 7/2018.
Thị trường nhập khẩu sữa và sản phẩm 7 tháng năm 2019
Thị trường Tháng 7/2019 (USD) +/- so với tháng 6/2019 (%)* 7 tháng năm 2019 (USD) +/- so với cùng kỳ năm 2018 (%)*
New Zealand 25.462.091 89,28 175.766.478 -5,42
Singapore 12.850.040 28,02 79.832.584 4,92
Hoa Kỳ 4.243.547 -69,43 75.164.661 14,49
Thái Lan 5.649.818 7,44 35.015.482 13,48
Australia 4.864.310 115,21 31.718.642 85,17
Đức 4.084.168 4,36 27.152.045 -22,46
Nhật Bản 4.933.723 55,88 26.115.575 40,7
Malaysia 4.317.052 34,43 25.483.670 22,18
Pháp 2.170.054 -39,57 24.333.820 25,09
Hà Lan 1.969.881 -22,6 19.237.888 -9,79
Ireland 3.052.867 12,39 11.346.096 15,69
Ba Lan 2.429.061 50,47 10.605.835 -23,48
Thụy Sỹ 1.387.728 -32,21 9.600.892
Tây Ban Nha 950.435 71,92 7.809.385 41,96
Hàn Quốc 1.250.559 23,62 7.552.893 -11
Bỉ 2.308.604 186,13 5.172.908 129,92
Philippines 679.734 13,61 4.008.268 59,4
Đan Mạch 266.630 64,81 1.263.203 65,49
(*Tính toán số liệu từ TCHQ)

 

THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU TACN
Sau khi sụt giảm ở tháng 5, thì sang đến tháng 6 và 7/2019 kim ngạch xuất khẩu thức ăn chăn nuôi đã tăng trưởng trở lại.
Cụ thể, theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, tháng 7/2019 kim ngạch xuất khẩu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam đã thu về 71,71 triệu USD, tăng 7,6% so với tháng 6/2019 – đây tháng tăng thứ hai liên tiếp. Nâng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này tính từ đầu năm đến hết tháng 7/2019 lên 402,19 triệu USD, giảm 4% so với cùng kỳ năm 2018.
Đông Nam Á là thị trường xuất khẩu chủ lực nhóm hàng này của Việt Nam, chiếm 33,4% tỷ trọng đạt 134,36 triệu USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, riêng tháng 7/2019 tăng 16,76% so với tháng 6/2019 và tăng 30,17% so với tháng 7/2018 đạt 22,63 triệu USD.
Trong số những thị trường nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu từ Việt Nam, thì Trung Quốc với khoảng cách và vị trí địa lý không xa với Việt Nam, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, kim ngạch xuất sang thị trường này đạt cao nhất 116,81 triệu USD trong 7 tháng đầu năm 2019, nhưng so với cùng kỳ 2018 thì sụt giảm 12,38%, riêng tháng 7/2019 cũng đã xuất sang Trung Quốc với trị giá 24,9 triệu USD, tăng 13,26% so với tháng 6/2019 và tăng 2,81% so với tháng 7/2018.
Kế đến là các thị trường Campuchia, Malsyia, Ấn Độ. Theo đó, xuất sang Campuchia tăng 7,15% đạt 55,95 triệu USD, riêng tháng 7/2019 đạt 9,29 triệu USD, tăng 17,96% so với tháng 6/2019 và tăng 33,72% so với tháng 7/2018; xuất sang Malaysia tăng 10,52% đạt 42 triệu USD; Ấn Độ giảm 13,85% chỉ với 41,81 triệu USD và Nhật Bản tăng 30,64% đạt 21,9 triệu USD.
Ngoài ra, Việt Nam còn xuất sang các thị trường khác như Mỹ, Singapre, Hàn Quốc….
Nhìn chung, 7 tháng đầu năm 2019 kim ngạch xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sang các thị trường hầu hết đều sụt giảm, số thị trường này chiếm 53,84%, trong đó xuất sang thị trường Hàn Quốc giảm nhiều nhất 23,74% so với cùng kỳ, tương ứng với 12,59 triệu USD, mặc dù tháng 7/2019 cũng đã xuất sang Hàn Quốc tăng 44,96% so với tháng 6/20189 và tăng gấp 3,3 lần (tức tăng 126,03%) so với tháng 7/2018 đạt 2,9 triệu USD.
Ở chiều ngược lại, thị trường Philippines tăng mạnh nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu từ Việt Nam, tăng 27,31% so với cùng kỳ, tuy chỉ đạt 13,73 triệu USD, riêng tháng 7/2019 kim ngạch đạt 30,5 triệu USD, tăng 12,17% so với tháng 6/2019 và tăng 38,64% so với tháng 7/2018.
Thị trường xuất khẩu thức ăn chăn nuôi 7 tháng năm 2019
Thị trường Tháng 7/2019 (USD) +/- so với tháng 6/2019 (%)* 7 tháng năm 2019 (USD) +/- so với cùng kỳ 2018 (%)*
Trung Quốc 24.906.487 13,26 116.810.172 -12,38
Campuchia 9.298.507 17,96 55.951.706 7,15
Malaysia 6.879.296 4,08 42.027.673 10,52
Ấn Độ 4.310.100 -47,58 41.817.752 -13,85
Nhật Bản 3.399.222 50,25 21.901.355 30,64
Mỹ 4.764.181 11,14 21.437.032 -13,67
Đài Loan 2.612.253 -2,15 15.438.873 -9,73
Thái Lan 1.326.482 5,06 14.068.080 -21,82
Philippines 3.051.090 12,17 13.739.786 27,31
Hàn Quốc 2.905.677 44,96 12.596.351 -23,74
Bangladesh 1.416.199 -23,87 10.027.992 46,2
Indonesia 1.525.347 116,45 6.655.501 -8,31
Singapore 550.965 170,89 1.922.276 0,21
(*Tính toán số liệu từ TCHQ)

 

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ