TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 8/2019

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo Bộ NN&PTNT, giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 8 năm 2019 ước đạt 64 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 8 tháng đầu năm 2019 ước đạt 449 triệu USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2018.

Chăn nuôi trâu, bò: Theo Tổng cục Thống kê tỉnh hình chăn nuôi trâu, bò trong tháng Tám không có biến động lớn. Ước tính tổng số trâu của cả nước tháng Tám năm 2019 giảm khoảng 3,1%; tổng số bò tăng khoảng 2,4% so với cùng thời điểm năm 2018.

Chăn nuôi lợn: Dịch tả lợn châu Phi tại nhiều địa phương đang dần được kiểm soát, số lượng lợn tiêu hủy trong tháng Tám ít hơn các tháng trước (số lượng lợn bị tiêu hủy trong tháng Tám (tính đến 19/8) là khoảng 475,7 nghìn con, tháng Bảy là 883,7 nghìn con). Ước tính tổng số lợn của cả nước tháng Tám năm 2019 giảm khoảng 18,5% so với cùng thời điểm năm 2018.

Chăn nuôi gia cầm: Đàn gia cầm cả nước trong tháng Tám nhìn chung phát triển tốt do thị trường tiêu thụ ổn định, giá bán ở mức có lợi cho người chăn nuôi. Thời tiết mưa nhiều, độ ẩm cao trong tháng Tám là môi trường thuận lợi để các chủng vi rút tồn tại, phát sinh. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tháng Tám năm 2019 tăng khoảng 10,0% so với cùng thời điểm năm 2018.

- Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP): Lũy kế từ đầu tháng 02/2019 đến ngày 20/8/2019, bệnh DTLCP đã xảy ra tại 6.959 xã thuộc 592 huyện của 62 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 4.426.236 con, với tổng trọng lượng là 255.505 tấn; trong đó: + Có 4.386 xã thuộc 582 huyện của 62 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 2.907.354 con chưa qua 30 ngày. + Có 2.573 xã thuộc 355 huyện của 53 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 1.518.882 con đã qua 30 ngày. + Có 400 xã thuộc 196 huyện của 42 tỉnh, thành phố có dịch bệnh đã qua 30 ngày nhưng sau đó lại phát sinh lợn bệnh.

- Dịch cúm gia cầm: Tính đến 20/8/2019, cả nước không có dịch Cúm gia cầm.

- Dịch lở mồm long móng: Tính đến 20/8/2019, cả nước có 01 ổ dịch tại phường 1, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

- Dịch lợn tai xanh: Tính đến 20/8/2019, cả nước không có dịch bệnh tai xanh.

KH. Thang 8

 

 

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 8 năm 2019 ước đạt 64 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 8 tháng đầu năm 2019 ước đạt 449 triệu USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2018.

Giá lợn nạc giao tháng 8/2019 thị trường Chicago, Mỹ biến động tăng trong tháng qua với mức tăng 0,015 UScent/lb lên 79,34 UScent/lb. Giá lợn tăng do xuất khẩu thịt lợn tăng đã hỗ trợ thị trường, cùng với việc giảm mối lo ngại về căng thẳng thương mại của Hoa Kỳ với Trung Quốc, thị trường tiêu thụ thịt lợn hàng đầu thế giới. Trong tháng 8/2019, giá lợn hơi biến động tăng tại các địa phương trên cả nước do nguồn cung lợn thịt khan hiếm, khi số lượng lớn lợn nuôi bị tiêu hủy do nhiễm dịch tả lợn châu Phi.

Bên cạnh đó, nhiều hộ vẫn chưa dám tái đàn vì lo tiềm ẩn rủi ro nhiễm bệnh trở lại. Tại miền Bắc, giá lợn hơi tăng 4.000 – 10.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại các tỉnh Chương Mỹ, Hoài Đức, Nam Định, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai dao động 44.000 – 46.000 đ/kg. Tại Phú Thọ, Bắc Giang, Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Hưng Yên, Thái Bình, Ứng Hoà, Vĩnh Phúc giá cao hơn khoảng 2.000 – 3.000 đ/kg, đạt 47.000 – 48.000 đ/kg. Vĩnh Phúc, Quảng Ninh có nơi lên tới 50.000 đ/kg. Như vậy, tính chung toàn miền giá lợn hơi trung bình đạt khoảng 46.000 – 47.000 đ/kg. Tại miền Trung, Tây Nguyên, giá lợn hơi cũng biến động tăng với mức tăng 6.000 – 8.000 đ/kg.

Giá lợn hơi tại Quảng Bình và Thừa Thiên Huế lần lượt là 42.000 đ/kg và 43.000 đ/kg. Tại Nghệ An, giá lợn có nơi lên tới 48.000 đ/kg; Thanh Hóa cũng tăng 6.000 đ/kg lên 46.000 đ/kg. Mặc dù vậy, một số địa phương như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, giá ở mức 32.000 – 34.000 đ/kg.

Giá lợn hơi tại Tây Nguyên dao động trong khoảng 39.000 – 42.000 đ/kg.

Giá lợn hơi tại miền Nam tiếp tục tăng, rất nhiều địa phương đồng loạt tăng 8.000 đ/kg – 10.000 đ/kg. Tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ như Hậu Giang, Kiên Giang, Cần Thơ tăng đạt mức trung bình 35.000 đ/kg – 37.000 đ/kg; tại miền Đông Nam Bộ như một số huyện của Đồng Nai, Tây Ninh, và Bình Dương 36.000 đ/kg – 38.000 đ/kg, một số nơi lên tới 41.000 – 42.000 đ/kg.

Dự báo, giá thịt lợn tăng mạnh trong 6 tháng cuối năm 2019, đặc biệt là vào dịp Tết Nguyên đán do nguồn cung thịt lợn giảm với ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi.

 Trong tháng 8/2019, giá thu mua gà và trứng tại trại giảm do nguồn cung dồi dào. Giá gà thịt lông trắng tại khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long giảm 1.000 – 2.000 đ/kg, hiện ở mức 24.000 – 25.000 đ/kg. Giá trứng gà tại trại 1.550 – 1.650 đ/kg, tăng 100 đ/kg so với tháng trước do nhu cầu tăng.

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU 

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 8/2019 đạt 371 triệu USD, tăng 15,05% so với tháng trước đó và tăng 26,36% so với cùng tháng năm ngoái.

Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 8/2019 vẫn là Argentina, Mỹ, Trung Quốc và Brazil… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 170 triệu USD, tăng 11,98% so với tháng trước đó và  tăng 341,53% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL trong 8 tháng đầu năm 2019 lên hơn 1 tỉ USD, chiếm 39,6% thị phần.

Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 8/2019 đạt hơn 75 triệu USD, tăng 101,56% so với tháng 7/2019 và tăng 5,55% so với tháng 8/2018. Tính chung, trong 8 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt  hơn 437  triệu USD, giảm 0,72% so với cùng kỳ năm 2018.

Đứng thứ ba là Trung Quốc với kim ngạch nhập khẩu hơn 14 triệu USD, giảm 7,07% so với tháng 7/2019 và giảm 40,53% so với tháng 8/2018, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 8 tháng đầu năm 2019 lên hơn 126 triệu USD, giảm 19,92% so với cùng kỳ năm 2018.

Tính chung, trong 8 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã chi hơn 2,5 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 3,21% so với cùng kỳ năm 2018. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh  trong thời gian này là: Canada với 35,8 triệu USD, tăng 167,3% so với cùng kỳ năm 2018, Australia với 19,3 triệu USD, tăng 87,6% so với cùng kỳ năm 2018, Argentina với hơn 1 tỉ USD, tăng 38,56% so với cùng kỳ năm 2018, sau cùng là Đức với hơn 7,3 triệu USD, tăng 15,15% so với cùng kỳ.

 

Nhập khẩu TĂCN & NL 8 tháng đầu năm 2019 theo thị trường

ĐVT: nghìn USD

Thị trường T8/2019 +/- So vớiT7/2019 (%) 8T/2019 +/- So với 8T/2018 (%)
Tổng KN 371.930 15,1 2.583.020 3,2
Argentina 170.307 12 1.023.455 38,6
Ấn Độ 12.651 -15,5 125.625 -0,8
Anh 37 -53,1 725 -25,2
Áo 114 -82,5 2.343 -45,1
Bỉ 280 -3,4 5.806 -72,0
Brazil 13.856 0,8 155.816 -52,2
UAE 538 -61,2 15.653 -65,7
Canada 3.968 -24,9 35.831 167,3
Chile 167 -88,5 6.424 -62,2
Đài Loan (TQ) 6.835 -35,1 51.649 -17,3
Đức 1.358 60,1 7.361 15,2
Hà Lan 992 4,5 10.390 -26,6
Hàn Quốc 3.647 -19,0 33.252 0,8
Mỹ 75.303 101,6 437.959 -0,7
Indonesia 10.323 18,4 54.470 -13,9
Italia 3.506 24,8 32.369 -2,7
Malaysia 2.728 -22,0 20.301 -21,3
Mexico 1.597 -47,1
Nhật Bản 56 1.389 -46,8
Australia 1.025 -27,1 19.359 87,6
Pháp 2.494 -18,1 21.838 -4,8
Philippin 979 -47,0 11.699 13,9
Singapore 1.618 11,3 11.611 4
Tây Ban Nha 634 -17,0 7.076 -26,4
Thái Lan 5.719 -44,5 78.702 5,2
Trung Quốc 14.577 -7,1 126.790 -19,9

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật trong 8 tháng đầu năm 2019.

Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 8 tháng đầu năm 2019

Mặt hàng

8T/2019 +/- So với 8T/2018
Lượng (nghìn tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (%) Trị giá (%)
Lúa mì 1.600 441.941 -56,3 -49,4
Ngô 6.465 1.331.417 6,7 7,2
Đậu tương 1.127 446.485 -1 -10,5
Dầu mỡ động thực vật 446.138 -7,5

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Lúa mì: 

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 8/2019 đạt 196 nghìn tấn với kim ngạch đạt 49 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 8 tháng đầu năm 2019 lên hơn 1,6 triệu tấn, với trị giá hơn 441 triệu USD, giảm 56,29% về khối lượng và giảm 49,38% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong  8 tháng đầu năm 2019 là Australia chiếm 42% thị phần; Canada chiếm 20%; Nga chiếm 12%, Mỹ chiếm 5% và Brazil chiếm 5%.

Hầu hết các thị trường nhập khẩu lúa mì đều giảm mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2018 là Nga, Mỹ và Australia. Trong 8 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu lúa mì Nga giảm 89,96% về lượng và giảm mạnh 88,55% về trị giá so với cùng kỳ. Tiếp theo là Mỹ giảm 36,31% về lượng và giảm 35,35% về trị giá so với cùng kỳ. Sau cùng là Australia giảm 22,53% về lượng và giảm 16,79% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Trong khi đó, Canada tăng 22,75% về lượng và tăng 24,72% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018; Brazil tăng 10,98% về lượng và 41,36% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Đậu tương: 

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 8/2019 đạt 107 nghìn tấn với trị giá hơn 43 triệu USD, đưa khối lượng và kim ngạch nhập khẩu đậu tương trong 8 tháng đầu năm 2019 lên 1,1 triệu tấn và 446 triệu USD, giảm 1,04% về lượng và giảm 10,45% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Ngô: 

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 8/2019  đạt hơn 1,1 triệu   tấn với trị giá đạt 221 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 8 tháng đầu năm 2019 lên hơn 6,4 triệu tấn, trị giá hơn 1,3 tỉ USD, tăng 6,7% về khối lượng và tăng 7,21% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Tuy nhiên, nhập khẩu ngô trong 8 tháng đầu năm 2019 từ các thị trường chủ yếu đều tăng mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.  Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 63% và 34% thị phần.

 

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com