TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 9/2019

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo Bộ NN&PTNT, Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 9 năm 2019 ước đạt 67 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 9 tháng đầu năm 2019 ước đạt 529 triệu USD, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2018. Tám tháng đầu năm 2019 giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ gia cầm đạt gần 20 triệu USD, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2018; Giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ lợn đạt 44,7 triệu USD, tăng 54,5% so với cùng kỳ năm 2018.

Chăn nuôi trâu, bò:

Theo Tổng cục Thống kê tỉnh hình chăn nuôi trâu, bò trong tháng Tám không có biến động lớn. Ước tính tổng số trâu của cả nước tháng Tám năm 2019 giảm khoảng 3,1%; tổng số bò tăng khoảng 2,4% so với cùng thời điểm năm 2018.

Chăn nuôi lợn:

Trong 9 tháng năm 2019, ngành chăn nuôi lợn đã và đang đối mặt với cơn khủng hoảng lớn khi dịch tả lợn châu Phi xuất hiện và lan rộng. Sau 7 tháng kể từ khi ổ dịch đầu tiên được phát hiện tại miền Bắc, đến nay dịch đã lan rộng trong cả 63 tỉnh, thành phố. Vùng bị thiệt hại do dịch lớn nhất cả nước là Đồng bằng sông Hồng, ước tính tổng đàn lợn của vùng tháng 9 năm 2019 giảm khoảng 38,3% so với cùng thời điểm năm 2018. Tổng đàn lợn của một số tỉnh đã sụt giảm rất lớn, ước tính Hải Phòng giảm 78%, Hải Dương giảm 68,2%, Huế giảm 62,4%, Bắc Ninh giảm 55,2%, Bắc Giang giảm 47%, Đồng Tháp giảm 48%, Sóc Trăng giảm 40% so với cùng thời điểm năm 2018.

Ước tính tổng đàn lợn của cả nước tháng 9 năm 2019 giảm khoảng 19% so với cùng thời điểm năm 2018; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý III ước đạt 709,3 nghìn tấn, giảm 17,0% so với cùng kỳ năm 2018; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 9 tháng ước đạt 2497,2 nghìn tấn, giảm 9% so với cùng kỳ năm 2018.

Chăn nuôi trâu, bò:

Đàn trâu, bò cả nước phát triển ổn định trong 9 tháng năm 2019. Tổng đàn trâu cả nước vẫn giảm dần do hiệu quả kinh tế không cao và môi trường chăn thả bị thu hẹp, đa số diện tích đất trồng lúa hiện nay đều sử dụng máy móc thay cho sức cày kéo của trâu. Nhiều hộ chăn nuôi đã chuyển đổi sinh kế khi địa phương thu hồi đất nông nghiệp để đầu tư, xây dựng khu công nghiệp. Đàn bò phát triển khá do có thị trường tiêu thụ tốt, giá bán thịt bò hơi ở mức tốt, người chăn nuôi có lãi ổn định, đồng thời được sự hỗ trợ nguồn vốn, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi của các ngành, các cấp và chính quyền địa phương. Chăn nuôi bò sữa phát triển tốt do nhiều tỉnh có đề án phát triển bò sữa.

Ước tính tổng số trâu của cả nước tháng 9 giảm khoảng 2,8%; tổng số bò tăng khoảng 2,4% so với cùng thời điểm năm 2018; sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 9 tháng ước đạt 70,5 nghìn tấn, tăng 3,1%; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng 9 tháng ước đạt 264,9 nghìn tấn, tăng 4,2%; sản lượng sữa bò tươi 9 tháng ước đạt 768,7 nghìn tấn, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2018.

Chăn nuôi gia cầm:

Đàn gia cầm cả nước trong 9 tháng vừa qua nhìn chung phát triển tốt, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Khi tình hình dịch bệnh ở lợn diễn biến phức tạp, nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm và trứng tăng mạnh do người dân chuyển sang sử dụng thịt gia cầm và các loại trứng nhiều hơn, Bộ đã tích cực chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh chăn nuôi gia cầm. Người chăn nuôi gia cầm đã yên tâm mở rộng quy mô đàn; các doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, mở rộng dây chuyền chế biến, nâng cao công suất để đáp ứng thị trường trong nước đồng thời xuất khẩu thịt gà đi các thị trường nước ngoài.

Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tháng 9 tăng khoảng 10,5 % so với cùng thời điểm năm 2018; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 9 tháng ước đạt 931,4 nghìn tấn, tăng 13,5%; sản lượng trứng gia cầm 9 tháng ước đạt 9,2 tỷ quả, tăng 10,0% so với cùng kỳ năm 2018.

Tình hình dịch bệnh

Theo báo cáo của Cục Thú Y, tính đến ngày 20/9/2019, tình hình dịch bệnh xảy ra trên cả nước như sau:

– Dịch Cúm gia cầm (CGC)

Trong tháng 9/2019, cả nước xuất hiện 01 ổ dịch CGC A/H5N6 tại tỉnh Bến Tre, cụ thể: Ngày 18/8/2019, phát sinh 01 ổ dịch CGC A/H5N6 tại 01 hộ chăn nuôi gia cầm thuộc xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày Nam. Đến ngày 28/8/2019, số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là: 1.026 con (gồm 1.024 con gà và 2 con vịt). Ổ dịch CGC trên đã qua 21 ngày. Hiện nay, cả nước không có dịch Cúm gia cầm.

– Dịch Lở mồm long móng (LMLM)

Trong tháng 9/2019, cả nước không phát sinh ổ dịch LMLM. Hiện nay, cả nước không có dịch bệnh LMLM.

– Dịch Tai xanh trên lợn

Trong tháng 9/2019, cả nước không phát sinh ổ dịch Tai xanh. Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh xảy ra.

– Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP)

Trong tháng 9/2019, cả nước có 63 tỉnh, thành phố có bệnh DTLCP. Lũy kế từ đầu tháng 02/2019 đến ngày 19/9/2019, bệnh DTLCP đã xảy ra tại 7.665 xã thuộc 644 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 5.097.376 con với tổng trọng lượng là 293.796 tấn (chiếm 7% tổng trọng lượng thịt lợn của cả nước); trong đó:

– Có 4.439 xã thuộc 588 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 2.907.961 con chưa qua 30 ngày.

– Có 3.226 xã thuộc 412 huyện của 56 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 2.189.415 con đã qua 30 ngày.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

Giá lợn nạc giao tháng 10/2019 thị trường Chicago, Mỹ biến động giảm trong tháng qua với mức giảm 2,9 UScent/lb xuống còn 62,925 UScent/lb. Giá thịt lợn giảm do nguồn cung thịt lợn Hoa Kỳ đang ở mức cao.

Trong tháng 9/2019, giá lợn hơi trong nước biến động giảm. Tại miền Bắc, giá lợn hơi giảm 1.000 – 2.000 đ/kg. Tại Hà Nam, lợn hơi được thu mua trong khoảng 40.000 – 47.000 đ/kg; Hoà Bình đạt 45.000 đ/kg. Hưng Yên, Tuyên Quang, Hà Nội, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Yên Bái giá ở mức 44.000 – 47.500 đ/kg. Một số địa phương còn lại giá lợn hơi cao hơn khoảng 2.500 – 4.000 đ/kg, ghi nhận ở mức 48.000 – 50.000 đồng.

Tại miền Trung, Tây Nguyên, giá lợn hơi đang dao động trong khoảng 39.000 – 45.000 đ/kg; giảm 2.000 đ/kg so với tháng trước. Cụ thể, mức giá cao nhất 45.000 đ/kg tại Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. Các tỉnh Huế, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa giá ổn định trong khoảng 40.000 – 41.000 đ/kg; tại Đắk Lắk cũng dao động quanh 39.000 – 42.000 đ/kg.

Giá lợn hơi tại miền Nam giảm ở nhiều địa phương với mức giảm 1.000 – 5.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại Gia Kiệm (Đồng Nai) có nơi đạt 47.000 đ/kg; Cẩm Mỹ (Đồng Nai) đạt 42.000 đ/kg. Bình Dương, Bình Phước tiếp tục duy trì mức 41.000 đ/kg – 42.000 đ/kg. Tại Tây Nam Bộ, giá lợn hơi vẫn ở mức thấp 37.000 đ/kg – 40.000 đ/kg. Tính chung toàn khu vực, lợn hơi đang được thu mua phổ biến trong khoảng 37.000 – 42.000 đ/kg.

Giá thu mua gà tại trại ở Đông Nam Bộ và ĐBSCL giảm mạnh trong tháng 9. So với tháng 8, giá gà thịt lông màu tại hai khu vực này giảm 8.000 đ/kg xuống còn 30.000 – 31.000 đ/kg. Giá gà thịt lông trắng giảm 4.000 – 6.000 đ/kg xuống mức 12.000 – 16.000 đ/kg. Giá gà giảm mạnh do thời gian qua đã tăng đàn gà ồ ạt, cùng lúc đó nguồn hàng nhập khẩu tràn về quá nhiều dẫn đến thừa nguồn cung.

Nhìn chung 9 tháng đầu năm 2019, giá lợn hơi cả nước trong xu hướng giảm là chủ đạo do chịu ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi. So với cuối năm 2018, giá lợn hơi miền Bắc giảm 1.000 – 2.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại miền Trung, Tây Nguyên giảm 1.000 – 6.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại miền Nam giảm 6.000 – 9.000 đ/kg.

Nguồn cung lợn tại Việt Nam và các nước lân cận, nhất là lượng lợn từ Trung Quốc cũng đang giảm mạnh vì bị ảnh hưởng do dịch tả lợn châu Phi. Với sự thiếu hụt nghiêm trọng về sản lượng thịt, dự báo, giá lợn hơi dịp cuối năm và Tết Nguyên đán 2020 sẽ tăng cao.

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU 

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 9/2019 đạt 262 triệu USD, giảm 29,47% so với tháng trước đó và giảm 31,99% so với cùng tháng năm ngoái. Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 9/2019 vẫn là Argentina, Mỹ, Trung Quốc và Indonesia… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 120 triệu USD, giảm 29,31% so với tháng trước đó và giảm 18,75% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL trong 9 tháng đầu năm 2019 lên hơn 1,1 tỉ USD, chiếm 40,5% thị phần.

Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 9/2019 đạt hơn 33 triệu USD, giảm 55,62% so với tháng 8/2019 và giảm 45,27% so với tháng 9/2018. Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 451 triệu USD, giảm 10,14% so với cùng kỳ năm 2018.Đứng thứ ba là Trung Quốc với kim ngạch nhập khẩu hơn 13 triệu USD, giảm 7,09% so với tháng 8/2019 và giảm 8,5% so với tháng 9/2018, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 9 tháng đầu năm 2019 lên hơn 140 triệu USD, giảm 18,99% so với cùng kỳ năm 2018.Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã chi hơn 2,8 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, giảm 2,2% so với cùng kỳ năm 2018. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh trong thời gian này là: Canada với 39,5 triệu USD, tăng 151,3% so với cùng kỳ năm 2018, Australia với 19,8 triệu USD, tăng 73,36% so với cùng kỳ năm 2018, Argentina với hơn 1,1 tỉ USD, tăng 28,94% so với cùng kỳ năm 2018, sau cùng là Philippin với hơn 13,7 triệu USD, tăng 21,25% so với cùng kỳ.

Nhập khẩu TĂCN& NL9 tháng đầu năm 2019 theo thị trường

ĐVT: nghìn USD

Thị trườngT9/2019+/- So vớiT8/2019 (%)9T/2019+/- So với 9T/2018 (%)
Tổng KN262.321-29,52.824.794-2,2
Argentina120.396-29,31.143.51728,9
Ấn Độ4.489-64,5130.115-6,9
Anh226497,9952-7,7
Áo80-30,12.424-50,3
Bỉ38437,06.190-71,1
Brazil7.890-43,1163.708-57,8
UAE222-58,815.875-68,1
Canada3.702-6,739.534151,3
Chile6.424-68,7
Đài Loan (TQ)6.130-10,357.779-18,3
Đức750-44,88.1025,1
Hà Lan982-0,911.373-32,5
Hàn Quốc3.8164,637.0680,3
Mỹ33.422-55,6451.289-10,1
Indonesia10.268-0,564.738-7,4
Italia3.263-6,935.633-6,0
Malaysia3.53129,423.829-14,6
Mexico2221.820-42,4
Nhật Bản115105,31.505-49,1
Australia532-48,119.89273,4
Pháp1.621-3523.424-6,5
Philippin2.041108,413.74021,3
Singapore1.83613,513.4485,6
Tây Ban Nha81127,97.888-34,5
Thái Lan8.79453,887.4969,5
Trung Quốc13.544-7,1140.263-19

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật trong 9 tháng đầu năm 2019.

Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 9 tháng đầu năm 2019

Mặt hàng9T/2019+/- So với 9T/2018
Lượng (nghìn tấn)Trị giá (nghìn USD)Lượng (%)Trị giá (%)
Lúa mì1.838494.502-54,4-48,7
Ngô8.1221.651.63712,510,7
Đậu tương1.326526.3410,2-8,4
Dầu mỡ động thực vật502.211-8,1

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Lúa mì: 

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 9/2019 đạt 303 nghìn tấn với kim ngạch đạt 70 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 9 tháng đầu năm 2019 lên hơn 1,8 triệu tấn, với trị giá hơn 494 triệu USD, giảm 54,44% về khối lượng và giảm 48,72% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 9 tháng đầu năm 2019 là Australia chiếm 41% thị phần; Nga chiếm 20%; Canada chiếm 14%; Mỹ chiếm 6% và Brazil chiếm 5%.Hầu hết các thị trường nhập khẩu lúa mì đều giảm mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2018 là Nga, Mỹ, Australia và Canada. Trong 9 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu lúa mì Nga giảm 81,95% về lượng và giảm mạnh 80,87% về trị giá so với cùng kỳ. Tiếp theo là Mỹ giảm 26,91% về lượng và giảm 25,89% về trị giá so với cùng kỳ. Australia giảm 20,57% về lượng và giảm 16,03% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Sau cùng là Canada giảm 4,36% về lượng và giảm 1,97% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Trong khi đó, Brazil tăng 9,17% về lượng và 38,81% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Đậu tương: 

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 9/2019 đạt 199 nghìn tấn với trị giá hơn 79 triệu USD, đưa khối lượng và kim ngạch nhập khẩu đậu tương trong 9 tháng đầu năm 2019 lên 1,3 triệu tấn và 526 triệu USD, tăng 0,16% về lượng song giảm 8,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.Ngô: Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 9/2019 đạt hơn 1,6 triệu tấn với trị giá đạt 321 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 9 tháng đầu năm 2019 lên hơn 8,1 triệu tấn, trị giá hơn 1,6 tỉ USD, tăng 12,45% về khối lượng và tăng 10,69% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.Tuy nhiên, nhập khẩu ngô trong 9 tháng đầu năm 2019 từ các thị trường chủ yếu đều tăng mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 63% và 35% thị phần.

NK sữa và các SP từ sữa

Số liệu sơ bộ từ TCHQ Việt Nam, tháng 9/2019 kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm từ sữa giảm 15% so với tháng 8/2019, xuống còn 72,51 triệu USD.

Theo VITIC, tính chung 9 tháng năm 2019 kim ngạch nhập nhóm hàng này đạt 763,9 triệu USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ 2018.

Trong 9 tháng đầu năm 2019, sữa và sản phẩm được nhập về Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ các thị trường như: New Zealand, Đông Nam Á, EU và Mỹ chiếm thị phần lần lượt 28,12%; 22,9%; 19,7% và 11,99%.

Cụ thể, kim ngạch nhập từ thị trường New Zealand đạt 214,82 triệu USD, giảm 5,92% so với cùng kỳ, riêng tháng 9/2019 chỉ đạt 17,46 triệu USD, giảm 20,31% so với tháng 8/2019 nhưng tăng gấp gần 3 lần (tức tăng 191,72%) so với tháng 9/2018.

Kim ngạch nhập từ thị trường Đông Nam Á tăng 2,25% tương ứng với 175,64 triệu USD, riêng tháng 9/2019 đạt 16,24 triệu USD, tăng 7,92% so với tháng 8/2019 nhưng giảm 14,06% so với tháng 9/2018.

Nhập từ thị trường EU trong tháng 9/2019 tốc độ giảm khá mạnh gần 54% so với tháng 8/2019, tương ứng với 13,81 triệu USD và giảm 1,48% so với tháng 9/2018. Tính chung 9 tháng 2019, Việt Nam nhập khẩu sữa và sản phẩm từ EU đạt 150,82 triệu USD, tăng 9,28% so với cùng kỳ năm trước.

Đối với thị trường Mỹ, tốc độ nhập khẩu đều tăng trưởng kim ngạch trong tháng và 9 tháng đầu năm 2019, đạt 8,5 triệu USD tăng 7,62% so với tháng 8/2019 và tăng 75,59% so với tháng 9/2018, nâng kim ngạch 9 tháng 2019 đạt 91,61 triệu USD, tăng 8,25% so với cùng kỳ 2018.

Ngoài những thị trường chủ lực kể trên, Việt Nam còn nhập từ các thị trường khác như: Đan Mạch, Hà Lan, Pháp, Bỉ….

Nhìn chung 9 tháng đầu năm 2019, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm từ các thị trường hầu hết đều tăng trưởng, trong đó nổi bật thị trường Ireland, tuy chỉ đạt 25,7 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ 2018 tăng gấp 2,3 lần (tức tăng 124,62%), mặc dù tháng 9/2019 đạt 2,1 triệu USD, giảm 82,53% so với tháng 8/2019 nhưng tăng gấp 3,7 lần (tức tăng 269,26%) so với tháng 9/2018. Bên cạnh đó, nhập từ Australia và Philippines đều tăng mạnh, tăng lần lượt 71,09% và 46,93% đạt tương ứng 37,2 triệu USD; 4,74 triệu USD.

Ngược lại, Việt Nam giảm mạnh nhập khẩu từ thị trường Đức, giảm 17,07% tương ứng với 35,42 triệu USD, riêng tháng 9/2019giamr 24,79% so với tháng 8/2019 chỉ có 3,55 triệu USD.

Thị trường nhập khẩu sữa và sản phẩm 9 tháng năm 2019

Thị trườngTháng 9/2019 (USD)+/- so với tháng 8/2019 (%)*9 tháng năm 2019 (USD)+/- so với cùng kỳ 2018*
New Zealand17.466.003-20,31214.820.186-5,92
Mỹ8.551.3107,6291.618.9138,25
Singapore2.929.546-26,5886.752.027-14,21
Thái Lan5.885.3563,6646.578.51515,98
Malaysia7.040.34139,6737.564.59437,83
Australia2.759.086-1,1937.262.26571,09
Đức3.551.508-24,7935.428.443-17,07
Nhật Bản5.216.34774,4234.299.21039,13
Pháp1.713.221-61,1230.510.60215,93
Ireland2.137.507-82,5325.718.423124,62
Hà Lan2.933.9256,8124.917.604-13,35
Ba Lan875.333-63,4913.879.308-19,4
Thụy Sỹ1.425.436177,6411.539.748
Tây Ban Nha1.514.25215,7210.632.25234,32
Hàn Quốc956.66525,299.276.629-5,02
Bỉ787.617-59,057.883.888207,7
Philippines391.28413,244.745.07746,93
Đan Mạch305.1805,021.858.95372,3

(*Tính toán số liệu từ TCHQ)

Việc Trung Quốc mở cửa với sản phẩm sữa của Việt Nam, ngành sữa kỳ vọng xuất khẩu sang thị trường này sẽ tăng từ 120 triệu USD lên 300 triệu USD vào năm 2020.

Dẫn nguồn tin từ báo Đầu tư, tăng trưởng xuất khẩu của ngành sữa sẽ “sang trang mới” khi Trung Quốc, thị trường tiêu dùng sữa lớn thứ 2 thế giới đã mở cửa cho các sản phẩm sữa xuất khẩu chính ngạch của Việt Nam.

Thông tin mới nhất từ Tổng cục Hải quan Trung Quốc, cơ quan này đã chính thức phê chuẩn việc cho phép nhập khẩu sản phẩm sữa của Việt Nam kể từ ngày 16/10, căn cứ theo quy định pháp luật Trung Quốc và nghị định thư giữa Tổng cục Hải quan nước này với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

Thông báo nêu rõ các sản phẩm sữa Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc phải đáp ứng các yêu cầu kiểm nghiệm, kiểm nghiệm liên quan, cụ thể là Luật An toàn thực phẩm và Luật Kiểm dịch động thực vật của Trung Quốc; Nghị định thư giữa hai nước và các quy định về giám sát, quản lý kiểm nghiệm, kiểm dịch sản phẩm sữa xuất nhập khẩu.

Các sản phẩm sữa Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc là các loại thực phẩm được chế biến với nguyên liệu chính là sữa bò đã được xử lý nhiệt, bao gồm các loại sữa thanh trùng, sữa tiệt trùng, sữa pha chế, sữa đặc, sữa bột, sữa công thức cho trẻ em…

Tổng cục Hải quan Trung Quốc cũng yêu cầu các doanh nghiệp xuất khẩu sữa của Việt Nam phải được sự chấp thuận của cơ quan chức năng Việt Nam, tiến hành các thủ tục đăng ký với Tổng cục Hải quan Trung Quốc; sau đó với các sản phẩm sữa cụ thể, phải tiến hành thẩm định về kiểm dịch để được cấp giấy phép kiểm dịch động thực vật của nước này, trên cơ sở đó mới có thể chính thức xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.

Như vậy, ngay trong tháng 10 này, một loạt các doanh nghiệp có tên trong danh sách được xuất khẩu sữa sang Trung Quốc, gồm Vinamilk, TH True milk, Mộc Châu Milk, Nutifood, Hanoimilk… sẽ triển khai hoạt động xuất khẩu sang thị trường này.

Trước đó, 26/4/2019 Nghị định thư về xuất khẩu sữa, sản phẩm sữa của Việt Nam sang Trung Quốc đã được ký kết. Đây là cơ sở pháp lý rất quan trọng tạo điều kiện cho sữa của Việt Nam xuất khẩu chính ngạch sang thị trường giàu tiềm năng với 1,4 tỷ dân.

Năng lực sản xuất của ngành sữa đang gia tăng nhanh chóng khi các doanh nghiệp triển khai loạt dự án lớn. Không chỉ là những dự án tại thị trường trong nước, các doanh nghiệp sữa Việt Nam đã vươn ra thị trường Nga, Thụy Điển, Mỹ bằng các dự án nghìn tỷ. Ngoài ra, việc đầu tư vùng nguyên liệu cũng được tăng cường để gia tăng nguồn cung tại chỗ, phục vụ chế biến sản phẩm phục vụ thị trường nội địa lẫn xuất khẩu.

Cụ thể, đến nay, tổng đàn bò sữa cả nước đạt trên 294.000 con, tăng gần 11%, sản lượng sữa gần 940 nghìn tấn. Trong đó, tổng đàn bò của TH True milk nuôi gần 50.000 con, Vinamilk 27.000 con và 120.000 con nuôi liên kết, Mộc Châu Milk khoảng 25.000 con, Nutifood 5.000 con…

Cục Chăn nuôi cho hay, mục tiêu đến năm 2020 tổng đàn bò sữa đạt 500.000 con, tổng lượng sữa đạt trên 1 triệu tấn, tăng trưởng bình quân trên 11%/năm. Đến năm 2030, tổng đàn bò sữa đạt 700.000 con, tổng sản lượng sữa đạt 2 triệu tấn.

Năm 2018, tổng doanh thu toàn ngành sữa đạt 109.000 tỷ đồng (Gần 4,8 tỷ USD). Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 6 về sản lượng sữa và đứng thứ 4 về năng suất của đàn bò vắt sữa châu Á.

7 tháng đầu năm 2019, kim ngạch xuất khẩu sữa sang hầu hết các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam đều tăng trưởng mạnh. Các thị trường xuất khẩu lớn nhất bao gồm Iraq (đạt 88,28 triệu USD, tăng 29,37%), tiếp đến là thị trường Trung Quốc (đạt 11,59 triệu USD, tăng 52,9%).

Hiện nay, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ sữa lớn thứ 2 thế giới (chỉ sau thị trường Mỹ) với tổng giá trị khoảng 60 tỷ USD và mức tiêu thụ sản phẩm sữa bình quân đầu người liên tục tăng. Dự báo năm 2019 Trung Quốc nhập khẩu 39,43 triệu tấn sữa và sản phẩm sữa, trong đó có khoảng 750.000 tấn sữa tươi và khoảng 650.000 tấn sữa bột.

Bởi vậy, ngành sữa đặt mục tiêu sang xuất khẩu sữa sang Trung Quốc sẽ tăng từ 120 triệu USD lên 300 triệu USD vào năm 2020.

Xuất khẩu TACN và nguyên liệu

Tháng 9/2019, kim ngạch xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu tiếp tục sụt giảm so với tháng 8/2019, giảm 20,2% tương ứng với 50,7 triệu USD – đây là tháng giảm thứ hai liên tiếp. Tính chung 9 tháng đầu năm 2019 kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 516,41 triệu USD, giảm 4,7% so với cùng kỳ năm 2018. Về thị trường xuất khẩu, là thị trường có vị trí địa lý không xa so với các quốc gia khác, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, Trung Quốc đại lục trở thành thị trường xuất khẩu chủ lực mặt hàng thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam.

9 tháng đầu năm nay, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đại lục chiếm 27,6% tỷ trọng đạt 142,63 triệu USD, tuy nhiên tốc độ xuất sang thị trường này lại sụt giảm 17,11% so với cùng kỳ, riêng tháng 9/2019 kim ngạch cũng sụt giảm 45,47% so với tháng 8/2019 và giảm 44,07% so với tháng 9/2018 tương ứng với 9,11 triệu USD.Đứng thứ hai là thị trường Campuchia, chiếm 14,39% tỷ trọng đạt 74,36 triệu USD, tăng 6,45% so với cùng kỳ, riêng tháng 9/2019 đã xuất sang Campuchia 9,61 triệu USD, tăng 9,12% so với tháng 8/2019 nhưng giảm 3,96% so với tháng 9/2018.Kế đến là các nước Malasyia, Ấn Độ và Mỹ đạt tương ứng 56,28 triêu USD; 49,4 triệu USD và 30,77 triệu USD tăng lần lượt 6,45%; 10,92% và giảm 11,13%.Ngoài những thị trường kể trên, Việt Nam còn xuất khẩu sang các nước khác như Đài Loan (TQ), Indonesia, Malaysia…Nhìn chung, 9 tháng đầu năm nay xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sang các thị trường hầu hết đều tăng trưởng. Đặc biệt, thời gian này Nhật Bản tăng mạnh nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu từ Việt Nam, tuy kim ngạch chỉ đạt 26,98 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ tăng vượt trội 22,94%, riêng tháng 9/2019 cũng đã xuất sang Nhật Bản 2,62 triệu USD, tăng 6,28% so với tháng 8/2019 và tăng 0,84% so với tháng 9/2018.Ngược lại, Thái Lan giảm mạnh nhập từ Việt Nam nhóm hàng này, giảm 26,53% tương ứng với 16,37 triệu USD, riêng tháng 9/2019 Thái Lan đã nhập từ Việt nam 1,24 triệu USD, tăng 16,58% so với tháng 8/2019 nhưng giảm 11,92% so với tháng 9/2019.

Thị trường xuất khẩu thức chăn nuôi  và nguyên liệu 9 tháng năm 2019

Thị trườngTháng 9/2019 (USD)+/- so với tháng 8/2019 (%)*9 tháng năm 2019 (USD)+/- so với cùng kỳ năm 2018 (%)*
Trung Quốc9.112.700-45,47142.634.868-17,11
Campuchia9.615.9909,1274.363.0796,45
Malaysia6.918.459-5,7756.288.48110,92
Ấn Độ3.418.579-19,7349.495.195-11,13
Mỹ4.535.903-5,6430.779.9322,35
Nhật Bản2.621.6516,2826.984.17222,94
Đài Loan2.248.781-19,4420.478.957-10,19
Philippines2.247.530-6,418.388.4617,43
Hàn Quốc1.632.967-49,7617.479.450-24,38
Thái Lan1.242.93816,5816.377.206-26,53
Bangladesh281.83318,3210.548.0285,16
Indonesia786.745-62,19.518.2944,96
Singapore278.469-2,272.485.691-3,99

(*Tính toán số liệu từ TCHQ)

Về tình hình sản xuất, theo số liệu từ TCTK thức ăn cho gia súc tháng 9/2019 ước đạt 1,03 triệu tấn, tăng 2,2% so với tháng 9/2018 và tăng 1,3% so với tháng 8/2019. Nâng lượng thức ăn cho gia súc 9 tháng năm 2019 lên 9,4 triệu tấn, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước.Cũng theo Tổng cục Thống kê, thức ăn cho thủy sản trong tháng 9/2019 ước đạt 604,4 nghìn tấn, tăng 0,2% so với tháng 8/2019 và tăng 14,8% so với tháng 9/2018. Nâng lượng thức ăn cho thủy sản 9 tháng năm 2019 lên 5,15 triệu tấn, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước.

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ