TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 9/2018

TÌNH HÌNH CHUNG (mới cập nhật)

Theo Bộ NN&PTNT, sản xuất nông nghiệp 9 tháng đầu năm 2018 ổn định và có mức tăng trưởng khá. Chăn nuôi bò, gia cầm phát triển (đàn bò tăng 2%, gia cầm tăng 5,5%); chăn nuôi lợn phục hồi (đàn lợn đã tăng 1,8% so với cùng kỳ 2017), đạt 98% kế hoạch. Xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 9 tháng ước đạt 405 triệu USD, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2017. Riêng 8 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu các sản phẩm từ gia cầm đạt gần 20 triệu USD (tăng gần 2,5 lần); sữa và các sản phẩm từ sữa đạt 82 triệu USD (tăng 80% so với cùng kỳ năm 2017).

Chăn nuôi trâu, bò:

Đàn trâu cả nước giảm dần do hiệu quả kinh tế không cao, đàn bò duy trì tốc độ tăng, nhưng mức tăng không cao như các năm trước do khó khăn về thị trường đầu ra. Theo số liệu ước tính của TCTK, tính đến thời điểm hiện tại, tổng số trâu cả nước giảm 1,2%, tổng số bò tăng 2,0% so với cùng kỳ năm 2017.

Chăn nuôi lợn:

Thị trường thịt lợn đang trong thời kỳ khởi sắc, giá thịt lợn hơi vẫn giữ ở mức cao, dao động khoảng 50.000 đồng/kg khiến các hoạt động tái đàn, quay trở lại nuôi diễn ra tại các cơ sở chăn nuôi trên cả nước. Theo ước tính của TCTK, tính đến tháng 9/2018, tổng đàn lợn tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2017.

Chăn nuôi gia cầm:

Đàn gia cầm tiếp tục phát triển tốt, thị trường tiêu dùng ổn định khiến người chăn nuôi yên tâm đầu tư, mở rộng quy mô đàn. Ước tính đến tháng 9/2018, tổng đàn gia cầm cả nước tăng 5,5% so với cùng thời điểm năm 2017.

Sản lượng thịt các loại:

Theo tính toán của TCTK, so với cùng kỳ năm 2017, sản lượng thịt xuất chuồng các loại cụ thể như sau: Sản lượng thịt trâu hơi ước đạt 66,4 nghìn tấn, tăng 0,9%; sản lượng thịt bò hơi ước đạt 253,2 nghìn tấn, tăng 2,6%; sản lượng sữa bò tươi ước đạt 713,3 nghìn tấn, tăng 8,4%. Sản lượng thịt lợn hơi ước đạt 2,7 triệu tấn, giảm 0,3%. Sản lượng thịt gia cầm hơi ước đạt 817,6 nghìn tấn, tăng 5,8%, sản lượng trứng gia cầm đạt 8,4 tỷ quả, tăng 10,8%.

Tính riêng quý III năm 2018 so với quý III năm 2017: Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 17,7 nghìn tấn, tăng 0,6%, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 67,8 nghìn tấn, tăng 2,2%, sản lượng sữa bò tươi ước đạt 243,3 nghìn tấn, tăng 9%, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 834,2 nghìn tấn, tăng 2,8% , sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước đạt 209,2 nghìn tấn, tăng 5%, sản lượng trứng gia cầm đạt 2,1 tỷ quả, tăng 9,5%.

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 9 năm 2018 ước đạt 38 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 405 triệu USD, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2017. Tám tháng đầu năm 2018 giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ gia cầm ước đạt khoảng 20 triệu USD, tăng gấp 2,4 lần so với cùng kỳ năm 2017; Giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ trâu, bò đạt 2,14 triệu USD (giảm 57,5%), lợn đạt 28,9 triêu USD (giảm 51,4% so với cùng kỳ năm 2017).

KH. Chan nuoi viet nam 9

 

Dịch bệnh: Theo Cục Thú y – Bộ NN&PTNT, tính đến thời điểm 30/09/2018, tình hình dịch bệnh trong cả nước như sau:

Dịch Cúm gia cầm (CGC)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh tại các địa phương.

Hiện nay, trên cả nước có 01 ổ dịch Cúm gia cầm A/H5N6 tại phường Duyệt Trung, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng (đã qua 16 ngày không phát sinh ca bệnh mới).

Dịch Lở mồm long móng gia súc (LMLM)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch  LMLM.

Dịch Tai xanh trên lợn

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.

Nguy cơ bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xâm nhiễm vào Việt Nam

a) Tình hình bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trên thế giới

- Theo thông tin cập nhật từ Tổ chức Thú y thế giới (OIE), tính từ năm 2017 đến ngày 20/9/2018, đã có 19 quốc gia như: Bỉ, Bun-ga-ri, Cộng hòa Sát, Trung Quốc, Cote D’Ivoire, Cộng hòa Séc, E-xtô-ni-a, Hung-ga-ri, Kê-ni-a, Lát-vi-a, Lít-va, Môn-đô-va, Ni-giê-ri-a, Ba Lan, Ru-ma-ni, Liên bang Nga, Nam Phi, U-crai-na và Dăm-bi-a báo cáo bệnh Dịch tả lợn Châu Phi. Tổng số lợn bệnh là 309.839 con, số lợn chết vì bệnh là 100.289 con, tổng đàn lợn có nguy cơ, đã buộc phải tiêu hủy là 707.819 con.

- Tại Trung Quốc: Theo thông tin cập nhật từ OIE và Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), tính từ đầu tháng 8/2018 đến ngày 28/9/2018, Trung Quốc báo cáo tổng cộng có 27 ổ dịch xuất hiện tại 8 tỉnh (bao gồm: An Huy, Hắc Long Giang, Hà Nam, Liêu Ninh, Giang Tô, Chiết Giang, Cát Lâm và Khu tự trị Nội Mông). Tổng cộng đã có hơn 90.000 con lợn các loại buộc phải tiêu hủy.

- Trên 50% số nước trên thế giới đã sử dụng kỹ thuật Real-time PCR (là một trong những phương pháp hiện đại, đáng tin cậy nhất hiện nay) để xét nghiệm xác định bệnh Dịch tả lợn Châu Phi.

b) Các biện pháp chủ động ngăn chặn bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xâm nhiễm vào Việt Nam

- Ngày 12/9/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Công điện số 1194/CĐ-TTg gửi các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc tập trung triển khai các biện pháp ngăn chặn bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xâm nhiễm vào Việt Nam.

- Ngày 30/8/2018, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT ban hành Công điện khẩn số 6741/CĐ-BNN-TY về việc chủ động ngăn chặn nguy cơ xâm nhiễm bệnh Dịch tả lợn Châu Phi vào Việt Nam.

- Ngày 30/8/2018, Cục Thú y đã ban hành Công văn số 2053/TY-DT gửi Sở NN&PTNT, Chi cục Chăn nuôi và Thú y các tỉnh, thành phố để hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật nhằm chủ động ngăn chặn nguy cơ xâm nhiễm bệnh Dịch tả lợn Châu Phi vào Việt Nam.

- Ngày 07/9/2018, Cục Thú y đã ban hành Công văn số 2105/KH-TY-DT về Kế hoạch chủ động triển khai giám sát để ngăn chặn bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xâm nhiễm vào Việt Nam; trong đó, có nội dung: (1) Xét nghiệm bổ sung để xác định bằng chứng của vi rút Dịch tả lợn Châu Phi ở tất cả các mẫu bệnh phẩm của lợn được các tổ chức, cá nhân gửi đến các phòng thí nghiệm thuộc Cục Thú y từ đầu năm 2018 đến nay; (2) Đề nghị các địa phương phối hợp tổ chức lấy mẫu xét nghiệm đối với các loại lợn, sản phẩm của lợn nhập lậu, nghi nhập lậu, vận chuyển trái phép từ nước ngoài vào Việt Nam; Các loại lợn phát hiện bị bệnh, nghi bị bệnh tại các điểm, cơ sở giết mổ lợn hoặc trong quá trình vận chuyển.

- Ngày 19/9/2018, Cục Thú y đã ban hành các văn bản thành lập 10 đoàn công tác trực tiếp đến 26 tỉnh, thành phố trọng điểm, giáp biên giới, có tổng đàn lợn lớn, có nguy cơ cao để hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện các biện pháp ngăn chặn bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xâm nhiễm vào Việt Nam theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT.

- Ngày 19/9/2018, Cục Thú y đã ban hành Quyết định số 616/QĐ-TY-DT về việc thành lập Đội ứng phó nhanh để ngăn chặn bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xâm nhiễm vào Việt Nam.

- Ngày 21/9/2018, Cục Thú y đã ban hành Công văn số 2217/TY-DT về việc đăng ký để được chỉ định xét nghiệm bệnh Dịch tả Châu Phi

Nhận định tình hình dịch bệnh

a) Đối với Cúm gia cầm

- Nguy cơ dịch phát sinh và lây lan trong thời gian tới là rất cao. Một số chủng vi rút CGC (A/H7N9, A/H5N2, A/H5N8) có nguy cơ xâm nhiễm vào Việt Nam thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh, thành phố khác có tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu.

- Các địa phương cần chủ động trong công tác phòng, chống CGC; tăng cường kiểm soát và xử lý nghiêm việc nhập lậu gia cầm, giám sát chặt địa bàn để phát hiện và xử lý ổ dịch kịp thời; chủ động triển khai giám sát dịch bệnh để phát hiện sớm, cảnh báo và thực hiện các biện pháp ứng phó kịp thời khi phát hiện có dịch bệnh hoặc có mẫu giám sát cho kết quả dương tính với các chủng vi rút CGC có nguy cơ gây bệnh ở gia cầm và gây bệnh ở người; đồng thời căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút CGC và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (Công văn số 2904/TY-DT ngày 28/12/2017) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

b) Đối với Dịch tả lợn Châu phi

Nguy cơ xâm nhiễm bệnh Dịch tả lợn Châu Phi vào Việt Nam là rất cao Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông đã và đang chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt nhằm ngăn chặn dịch bệnh xâm nhiễm vào Việt Nam.

c) Đối với Lở mồm long móng

- Nguy cơ phát sinh các ổ dịch trên đàn gia súc chưa được tiêm phòng vắc xin LMLM hoặc đàn gia súc khỏe mạnh được vận chuyển đến vùng có ổ dịch cũ là rất cao.

- Các địa phương thuộc khu vực có nguy cơ cao, nơi có ổ dịch cũ, có đàn gia súc chưa được tiêm phòng triệt để, đặc biệt các địa phương có dự án cung ứng con giống gia súc, xóa đói giảm nghèo cần tăng cường giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, tổ chức tiêm phòng vắc xin LMLM, kiểm soát chặt việc vận chuyển gia súc, quản lý giết mổ gia súc để giảm thiểu nguy cơ phát sinh, lây lan dịch; đồng thời căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút LMLM và khuyến cáo sử dụng vắc xin năm 2018 (Công văn số 1635/TY-DT ngày 17/7/2018) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

d) Đối với Tai xanh trên lợn

- Trong thời gian tới, có thể xuất hiện các ổ dịch nhỏ lẻ trên địa bàn có ổ dịch cũ và khu vực có nguy cơ cao.

- Các địa phương cần tăng cường giám sát dịch bệnh trên đàn lợn, phát hiện sớm ổ dịch, thực hiện nghiêm các qui định về kiểm dịch vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tăng cường kiểm soát giết mổ lợn, chủ động ngăn chặn dịch phát sinh và lây lan; đồng thời căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút Tai xanh và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (Công văn số 2904/TY-DT ngày 28/12/2017) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH

- Theo dõi tình hình dịch bệnh ở các địa phương đặc biệt đối với bệnh nguy hiểm như Cúm gia cầm, Lở mồm long móng, Tai xanh, Dại, Dịch tả lợn Châu Phi (ở các nước).

- Tổ chức triển khai các biện pháp phòng và ngăn chặn dịch bệnh theo Công điện số 1194/CĐ-TTg ngày 12/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 và Công điện khẩn số 6741/CĐ-BNN-TY ngày 30/8/2018 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT.

- Tất cả 10 đoàn công tác của Cục Thú y trực tiếp đến 26 tỉnh, thành phố trọng điểm, giáp biên giới, có tổng đàn lợn lớn, có nguy cơ cao để hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện các biện pháp ngăn chặn bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xâm nhiễm vào Việt Nam theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT.

- Tiếp tục giám sát để ngăn chặn bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xâm nhiễm vào Việt Nam; trong đó, Cục Thú y, cụ thể: (1) Xét nghiệm bổ sung để xác định bằng chứng của vi rút Dịch tả lợn Châu Phi ở tất cả các mẫu bệnh phẩm của lợn được các tổ chức, cá nhân gửi đến các phòng thí nghiệm thuộc Cục Thú y từ đầu năm 2018 đến nay; (2) Lấy mẫu xét nghiệm đối với các loại lợn, sản phẩm của lợn nhập lậu, nghi nhập lậu, vận chuyển trái phép từ nước ngoài vào Việt Nam; Các loại lợn phát hiện bị bệnh, nghi bị bệnh tại các điểm, cơ sở giết mổ lợn hoặc trong quá trình vận chuyển.

- Tiếp thu và hoàn thiện Dự thảo “Kế hoạch quốc gia phòng chống dịch bệnh Cúm gia cầm giai đoạn 2019 – 2025”.

- Tổ chức thực hiện các nội dung của Chương trình quốc gia khống chế và tiến tới loại trừ bệnh Dại năm 2018; Chuẩn bị tổ chức Lễ mít tinh Ngày Quốc tế phòng chống bệnh Dại năm 2018, dự kiến ngày 04/10/2018 tại tỉnh Lào Cai.

- Tiếp tục hướng dẫn doanh nghiệp tổ chức xây dựng và thực hiện các đề án về chuỗi sản xuất thịt lợn và chuỗi sản xuất thịt gà an toàn dịch bệnh theo tiêu chuẩn của OIE để xuất khẩu.

- Tiếp tục xây dựng hồ sơ quốc gia đề nghị OIE xác nhận Chương trình quốc gia, phòng chống bệnh LMLM (để làm cơ sở hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh và xuất khẩu động vật, sản phẩm động vật).

- Các cơ quan, đơn vị thuộc Cục Thú y tiếp tục chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các địa phương trong công tác phòng chống dịch bệnh động vật./.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI TRONG NƯỚC

Giá lợn hơi trong nước biến động tăng trong tháng 9. Hiện, giá lợn hơi tại miền Bắc đang giao dịch ở mức 52.000 – 55.000 đ/kg, tăng 2.000 – 3.000 đ/kg so với tháng trước. Tại huyện Ba Vì (Hà Nội), giá lợn hơi tăng 2.000 đồng/kg lên 55.000 đ/kg. Tại Hưng Yên, giá lợn hơi hiện dao động trong khoảng 52.000 – 54.000 đ/kg, có nơi lên tới 55.000 đ/kg; các tỉnh Nam Định, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hải Phòng dao động trong khoảng 53.000 – 54.000 đ/kg; giá lợn hơi tại Phú Thọ khoảng 51.000 – 53.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại miền Trung, Tây Nguyên có địa phương tăng tới 4.000 đ/kg so với tháng trước. Hiện, giá lợn hơi toàn khu vực đang giao dịch ở mức 47.000 – 55.000 đ/kg. Trong đó, Thanh Hóa là địa phương ghi nhận mức tăng cao 4.000 đ/kg với giá lên đến 55.000 đ/kg. Tại miền Nam, đà tăng giá lợn hơi tiếp tục được duy trì. Nhìn chung toàn miền, giá lợn hơi dao động phổ biến ở mức 52.000 – 53.000 đ/kg, tăng 1.000 – 3.000 đ/kg so với tháng trước. Giá lợn hơi tăng do lợn hơi tới lứa xuất bán trong các trang trại không nhiều, dẫn tới thiếu hụt nguồn cung cục bộ. Dự báo, giá lợn hơi sẽ tăng trong những tháng cuối năm do nhu cầu tăng. Trái ngược với xu hướng giá thịt lợn, giá gia cầm có xu hướng giảm. So với tháng trước, giá gà thịt lông màu mua tại trại khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long giảm 1.000 – 2.000 đ/kg xuống còn 31.000 – 33.000 đ/kg. Giá gà thịt tại hai khu vực này giảm 2.000 đ/kg xuống 20.000 – 22.000 đ/kg. Giá trứng gà tại trại giảm 450 – 500 đ/quả xuống còn 1.450 – 1.650 đ/quả.

Trong 9 tháng đầu năm 2018, giá lợn hơi trong nước có xu hướng tăng. So với cuối năm 2017, giá lợn hơi tại miền Bắc tăng khoảng 18.000 – 19.000 đ/kg (tăng 150 – 156%). Giá lợn hơi tại miền Trung, Tây Nguyên tăng 14.000 – 21.000 đ/kg (tăng 140 – 160%). Giá lợn hơi tại miền Nam tăng 23.000 – 24.000 đ/kg (tăng 177 – 186%). Trong khi đó, giá gia cầm có xu hướng giảm. So với cuối năm 2017, giá gà thịt lông màu mua tại trại khu vực Đông Nam Bộ và ĐBSCL giảm 8.000 – 9.000 đ/kg. Giá gà thịt tại hai khu vực này giảm 6.000 – 7.000 đ/kg. Giá trứng gà tại trại giảm 200 – 400 đ/quả.

 

 

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 9/2018 đạt 386 triệu USD, tăng 27,93% so với tháng trước đó và tăng 51,71% so với cùng tháng năm ngoái.

 

Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 9/2018 là Argentina, Brazil, Mỹ, Trung Quốc,… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 148 triệu USD, tăng 222,64% so với tháng trước đó và tăng 25,69% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL từ nước này trong 9  tháng đầu năm 2018 lên gần 900 triệu USD, chiếm 30,9% thị phần.

Kế đến là thị trường Brazil với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 9/2018 đạt hơn 61 triệu USD, tăng 97,9% so với tháng 8/2018 và tăng 130,9% so với cùng tháng năm trước. Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2018 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 388 triệu USD, tăng 272,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Đứng thứ ba là Mỹ, với kim ngạch nhập khẩu hơn 61 triệu USD, giảm 14,2% so với tháng trước đó nhưng tăng mạnh 903,7% so với cùng tháng năm trước, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 9 tháng đầu năm 2018 lên hơn 502 triệu USD, tăng 168,45% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2018 Việt Nam đã chi gần 2,9 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 17,08% so với cùng kỳ năm trước. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh  trong thời gian này là: Brazil với 388 triệu USD, tăng 272,43% so với cùng kỳ, Mỹ với 502 triệu USD, tăng 168,45% so với cùng kỳ, Chile với hơn 20 triệu USD, tăng 152,97% so với cùng kỳ, sau cùng là Bỉ với hơn 21 triệu USD, tăng 121,64% so với cùng kỳ.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu TĂCN & NL 9 tháng đầu năm 2018

ĐVT: nghìn USD

Thị trường 9T/2017 T9/2018 +/- So với T8/2018 (%) 9T/2018 +/- So với 9T/2017 (%)
Tổng KN 2.474.850 386.516 27,9 2.897.476 17,1
Argentina 1.193.806 148.432 222,6 894.518 -25,1
Ấn Độ 102.946 13.238 12,1 139.871 35,9
Anh 1.337 61 -74,3 1.031 -22,9
Áo 47.216 607 576,6 4.875 -89,7
Bỉ 9.712 699 -7,4 21.527 121,6
Brazil 104.244 61.957 97,9 388.235 272,4
UAE 56.272 4.117 9,4 49.724 -11,6
Canada 55.419 2.327 53,0 15.731 -71,6
Chile 8.116 3.519 -50,2 20.533 153
Đài Loan 61.999 8.251 -6,3 70.697 14,0
Đức 5.915 1.317 104,2 7.604 28,6
Hà Lan 15.278 2.685 7,3 17.089 11,9
Hàn Quốc 27.165 3.952 -1,9 36.923 35,9
Mỹ 187.091 61.220 -14,2 502.251 168,5
Indonesia 79.025 6.614 -23,2 69.901 -11,6
Italia 54.291 4.645 0,5 37.925 -30,1
Malaysia 21.226 2.095 -31,4 27.899 31,4
Mexico 1.755 140 -61,2 3.143 79,1
Nhật Bản 3.565 345 32,4 2.955 -17,1
Australia 8.432 1.155 -33,2 11.474 36,1
Pháp 19.415 2.107 -17,9 25.057 29,1
Philippin 13.658 608 -75,5 11.332 -17,0
Singapore 11.340 1.566 -16,8 12.733 12,3
Tây Ban Nha 8.160 2.425 4,7 12.036 47,5
Thái Lan 57.909 5.147 -58,4 79.754 37,7
Trung Quốc 115.765 14.900 -39,3 173.433 49,8

(Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Ngoài ra nguồn nguyên liệu sản xuất TĂCN còn bao gồm các loại: lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về các nguyên liệu sản xuất TĂCN trong 9 tháng đầu năm 2018

Mặt hàng

9T/2017 9T/2018 So với cùng kỳ
Lượng (1000 tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (1000 tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (%) Trị giá (%)
Lúa mì 3.693 777.916 3.988 955.420 8 22,8
Ngô 5.605 1.104.896 7.281 1.504.148 29,9 36,1
Đậu tương 1.279 550.332 1.325 574.704 3,6 4,4
Dầu mỡ động thực vật   542.881   547.446   0,8

(Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Lúa mì: 

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 9/2018 đạt 305 nghìn tấn với kim ngạch đạt 75 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 9 tháng đầu năm 2018 lên gần 4 triệu tấn, với trị giá 955  triệu USD, tăng 8% về khối lượng và tăng 22,82% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 9 tháng đầu năm 2018 là Nga chiếm 53% thị phần; Australia chiếm 25%, Canada chiếm 8%, Mỹ chiếm 4% và Brazil chiếm 2%.

Chỉ có một số thị trường nhập khẩu lúa mì tăng mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2017 là Mỹ và Nga. Trong 9 tháng đầu năm 2018, thị trường Nga về lượng tăng  hơn 13 lần và về trị giá tăng hơn 15 lần. Tương tự, Mỹ tăng lần lượt hơn 12 lần và 11 lần.

Đậu tương: 

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 9/2018 đạt 185 nghìn tấn với giá trị hơn 76 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong 9 tháng đầu năm 2018 lên hơn 1,3 triệu tấn và 574 triệu USD, tăng 3,55% về khối lượng và tăng 4,43% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Ngô: 

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 9/2018 đạt hơn 1,2 triệu  tấn với trị giá đạt 259 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 9 tháng đầu năm 2018 lên  hơn 7,26 triệu tấn và hơn 1,5 tỉ USD, tăng 29,9% về khối lượng và tăng 36,13% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 48% và 14% thị phần. Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2018 nhập khẩu ngô của thị trường Thái Lan giảm mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Sắn và các sản phẩm từ sắn XK:

 Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 9 năm 2018 ước đạt 166 nghìn tấn với giá trị đạt 70 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 1,86 triệu tấn và 708 triệu USD, giảm 35% về khối lượng và giảm 1,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Trong 8 tháng đầu năm 2018, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính, chiếm tới 86,3% thị phần, giảm 35,3% về khối lượng và giảm 0,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

 

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ