TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 12/2017

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo Bộ NN&PTNT, tình hình chăn nuôi năm 2017 gặp nhiều biến động, đặc biệt là giá thịt lợn giảm sâu từ đầu năm khiến người chăn nuôi chịu thua lỗ. Sau nhiều tháng chạm đáy, giá lợn hơi những tháng cuối năm đang có dấu hiệu tăng trở lại nhưng vẫn không đủ để người chăn nuôi có lãi. Tình trạng giá thấp kéo dài, khó khăn trong khâu tiêu thụ khiến người chăn nuôi lợn giảm đàn, bỏ đàn, treo chuồng. Tuy nhiên, chăn nuôi gia cầm và bò vẫn đang phát triển khá tốt và ổn định. Theo kết quả điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017, đàn lợn cả nước có 27,4 triệu con, giảm 5,7%, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 3,7 triệu tấn, tăng 1,9%. Đàn gia cầm cả nước ước có 385,5 triệu con, tăng khoảng 6,6%, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 1,03 triệu tấn, tăng 7,3%, sản lượng trứng gia cầm đạt 10,6 triệu quả, tăng 12,6%.

Chăn nuôi trâu, bò:

Đàn trâu, bò cả nước trong năm nhìn chung không có biến động lớn. Trong vài tháng cuối năm, một số tỉnh có xuất hiện các ổ dịch lở mồm long móng trong phạm vi nhỏ lẻ nhưng hiện đã được dập tắt. Đàn bò phát triển khá tốt do có nhiều chương trình hỗ trợ của Nhà nước, dự án đầu tư của các tổ chức, doanh nghiệp được triển khai, thị trường tiêu thụ thuận lợi, ít dịch bệnh, hiệu quả kinh tế cao. Theo kết quả điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017, đàn trâu cả nước có 2,49 triệu con, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2016, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng đạt 87,9 nghìn tấn, tăng 1,5%; đàn bò có 5,6 triệu con, tăng 2,9%, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 321,7 nghìn tấn, tăng 4,2%, sản lượng sữa bò đạt 881,3 triệu lít, tăng 10,8%. Một số tỉnh phát triển tốt đàn bò sữa, chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng sữa cả nước là Hồ Chí Minh đạt 285,5 triệu lít, tăng 2,4%; Nghệ An đạt 225,9 triệu lít, tăng 9,5%; Sơn La đạt 81,8 triệu lít, tăng 11,4%; Lâm Đồng đạt 75,5 triệu lít, tăng 8,0%; Hà Nội đạt 40,2 triệu lít, tăng 2,01%.

Chăn nuôi lợn:

Thị trường tiêu thụ thịt lợn vẫn chưa khởi sắc, giá bán thịt lợn ở mức thấp khiến người chăn nuôi tiếp tục chịu thua lỗ. Theo kết quả điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017, đàn lợn cả nước có 27,4 triệu con, giảm 5,7%, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 3,7 triệu tấn, tăng 1,9%.

Chăn nuôi gia cầm:

Đàn gia cầm cả nước tiếp tục phát triển, thị trường tiêu thụ tốt, giá bán thịt gia cầm ở mức có lãi cho người chăn nuôi. Các mô hình gia trại, trang trại đa dạng về đối tượng và chất lượng đàn ngày càng tăng. Người chăn nuôi tập trung sản xuất để đáp ứng thị trường tiêu thụ cuối năm và dịp tết sắp tới. Theo kết quả điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017, đàn gia cầm cả nước ước có 385,5 triệu con, tăng khoảng 6,6%, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 1,03 triệu tấn, tăng 7,3%, sản lượng trứng gia cầm đạt 10,6 triệu quả, tăng 12,6%. Một số tỉnh có sản lượng trứng gia cầm lớn tăng cao là: Thái Nguyên tăng 33,04%, Bắc Giang tăng 15,02%; Phú Thọ tăng 41,58%; Thanh Hóa tăng 14,86%; Hà Tĩnh tăng 19,48%; Bình Định tăng 27,81%; Lâm Đồng tăng 18,23%; Long An tăng 26,97%; Tiền Giang tăng 20,47% và Sóc Trăng tăng 38,99%.

KH. Chan nuoi viet nam 12

Dịch bệnh: Theo Cục Thú y – Bộ NN&PTNT, tính đến thời điểm 18/01/2018, tình hình dịch bệnh trong cả nước như sau:

 Dịch Cúm gia cầm (CGC)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Cúm gia cầm.

Dịch Lở mồm long móng gia súc (LMLM)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh tại các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Lở mồm long móng.

Dịch Tai xanh trên lợn

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.

Nhận định tình hình dịch

Cúm gia cầm: Nguy cơ dịch phát sinh và lây lan trong thời gian tới là rất cao. Một số chủng vi rút cúm gia cầm chưa có ở Việt Nam (A/H7N9, A/H5N2, A/H5N8) có nguy cơ xâm nhiễm vào trong nước thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh, thành phố khác có tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu. Các địa phương cần chủ động trong công tác phòng, chống Cúm gia cầm; tăng cường kiểm soát và xử lý nghiêm việc nhập lậu gia cầm, giám sát chặt địa bàn để phát hiện và xử lý ổ dịch kịp thời.

Lở mồm long móng: Nguy cơ phát sinh các ổ dịch trên đàn gia súc chưa được tiêm phòng vắc xin LMLM hoặc đàn gia súc khỏe mạnh được vận chuyển đến vùng có ổ dịch cũ là rất cao. Do đó, các địa phương thuộc khu vực có nguy cơ cao, nơi có ổ dịch cũ, có đàn gia súc chưa được tiêm phòng triệt để, đặc biệt các địa phương có dự án cung ứng con giống gia súc, xóa đói giảm nghèo cần tăng cường giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, tổ chức tiêm phòng vắc xin LMLM, kiểm soát chặt việc vận chuyển gia súc, quản lý giết mổ gia súc để giảm thiểu nguy cơ phát sinh, lây lan dịch.

Tai xanh trên lợn: Trong thời gian tới, có thể xuất hiện các ổ dịch nhỏ lẻ trên địa bàn có ổ dịch cũ và khu vực có nguy cơ cao. Các địa phương cần tăng cường giám sát dịch bệnh trên đàn lợn, phát hiện sớm ổ dịch, thực hiện nghiêm các qui định về kiểm dịch vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tăng cường kiểm soát giết mổ lợn, chủ động ngăn chặn dịch phát sinh và lây lan.

Các địa phương căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút Cúm gia cầm, Tai xanh và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (văn bản số 2904/TY-DT ngày 28/12/2017) và thông báo lưu hành vi rút LMLM và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (công văn số 2168 /TY-DT ngày 05/10/2017) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

 

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI TRONG NƯỚC

Giá lợn hơi trên địa bàn cả nước biến động tăng trong tháng qua, phổ biến trong khoảng 27.000 – 35.000 đ/kg. Tại khu vực phía Bắc, giá lợn hơi tại các tỉnh Bắc Giang, Ninh Bình, Hải Dương, Hà Nội, Hà Nam tăng 5.000 đ/kg lên 35.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại Thái Bình, Quảng Ninh tăng 4.000 đ/kg, hiện dao động trong khoảng 32.000 – 34.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại miền Trung, Tây Nguyên hiện đang ở mức 27.000 – 33.000 đ/kg, tăng 1.000 – 2.000 đ/kg so với tháng trước. Tại miền Nam, giá lợn hơi biến động tăng nhẹ 1.000 đ/kg lên mức 26.000 – 29.000 đ/kg. Trái ngược với xu hướng của giá thịt lợn, giá thu mua gà thịt lông trắng khu vực Đông Nam Bộ và ĐBSCL biến động giảm trong tháng qua với mức giảm 2.000 – 3.000 đ/kg so với tháng 11/2017.

Giá gà thịt lông màu tại 2 khu vực này cũng giảm 1.000 – 2.000 đ/kg xuống mức 32.000 – 33.000 đ/kg so với tháng trước do nhu cầu tiêu thụ đang chậm lại. Giá trứng gà tăng 50 đ/quả lên 1.750 – 1.850 đ/quả; giá trứng vịt tăng 100 đ/quả lên 2.100 – 2.300 đ/quả.

Nhìn chung trong cả năm 2017, ngoại trừ đợt phục hồi mạnh mẽ vào giữa tháng 7, giá lợn hơi trung bình của cả nước chủ yếu giảm do nguồn cung dư thừa trong khi nhu cầu tiêu thụ không có đột biến. Tuy nhiên, giá lợn có xu hướng tăng trở lại từ tháng 11 với các đợt tăng giá lần này diễn ra khá từ từ. Dự báo đến tết, giá lợn tết nhiều khả năng sẽ tăng thêm do các cơ sở chế biến đang tập trung giết mổ lợn để sản xuất các loại thực phẩm phục vụ nhu cầu Tết của người dân.

 

 

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tạihttp://channuoivietnam.com/bieu-2/

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 12/2017 đạt 227 triệu USD, giảm 12,36% so với tháng trước đó và giảm 22,81% so với cùng tháng năm ngoái.

Tính chung, trong năm 2017 Việt Nam đã chi gần 3,2 tỉ USD nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu, giảm 6,97% so với năm trước đó. Trong năm 2017, nhập khẩu TĂCN & NL của Việt Nam từ một số thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh, thứ nhất là Italia với hơn 64 triệu USD, tăng 524,37% so với cùng kỳ; đứng thứ hai là Canada với hơn 68 triệu USD, tăng 466,13% so với cùng kỳ; Ấn Độ với hơn 144 triệu USD, tăng 75,57% so với cùng kỳ, sau cùng là Bỉ với gần 18 triệu USD, tăng 66,03% so với cùng kỳ.

Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 12/2017 là Achentina, Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ,.. Trong đó, Achentina là thị trường chủ yếu Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này với 86 triệu USD, tăng 2,89% so với tháng trước đó nhưng giảm 27,53% so với cùng tháng năm trước đó, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN &NL từ nước này trong năm 2017 lên gần 1,5 tỉ USD, chiếm 46,3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng, giảm 4,44% so với năm trước đó – đứng đầu về thị trường cung cấp TĂCN &NL cho Việt Nam. Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 12/2017 đạt hơn 30 triệu USD, giảm 22,09% so với tháng 11/2017 và giảm 33,29% so với cùng tháng năm trước đó. Tính chung, trong năm 2017 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN &NL từ thị trường này đạt hơn 264 triệu USD, giảm 35,15% so với năm trước đó.
Kim ngạch nhập khẩu TĂCN &NL từ Achentina trong năm 2017 đạt mức cao nhất, do nguồn nguyên liệu từ thị trường này dồi dào – thị trường TĂCN &NL tiềm năng của Việt Nam.
Đứng thứ ba về kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu trong tháng 12/2017 là Trung Quốc, với trị giá hơn 16 triệu USD, tăng 17,6% so với tháng trước đó nhưng giảm 2,78% so với cùng tháng năm trước đó, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2017 lên hơn 163 triệu USD, giảm 37,93% so với năm trước đó.
Ngoài ba thị trường trên còn kể đến thị trường Ấn Độ, Brazil, Indonesia, Đài Loan và Thái Lan với kim ngạch đạt 144 triệu USD, 140 triệu USD, 104 triệu USD; 82 triệu USD; và 76 triệu USD.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu năm 2017

ĐVT: nghìn USD

KNNK 11T/2016 KNNK T11/2017 KNNK 11T/2017 +/- so với T10/2017 (%) +/- so với T11/2016 (%) +/- so với 11T/2016 (%)
Tổng KN 3.448.897 227.576 3.208.614 -12,4 -22,8 -7
Achentina 1.555.647 86.334 1.486.632 2,9 -27,5 -4,4
Ấn Độ 82.357 14.309 144.597 -16,8 48,3 75,6
Anh 1.563 60 1.649 -63,2 -68,5 5,5
Áo 120.733 577 50.061 -63,2 -95,1 -58,5
Bỉ 10.839 3.089 17.996 -2,6 204,1 66,0
Brazil 132.948 5.749 140.949 -78,6 23,0 6,0
UAE 77.269 4.606 74.382 -10 -26,8 -3,7
Canada 12.087 1.059 68.428 -70,1 -27,6 466,1
Chilê 8.378 462 9.896 423,1 -86,0 18,1
Đài Loan 78.247 6.526 82.041 13,1 3,2 4,9
Đức 6.988 329 8.206 -70,5 -67,3 17,4
Hà Lan 27.205 1.750 19.876 10,0 -39,5 -26,9
Hàn Quốc 37.689 4.147 38.281 5,1 14,4 1,6
Mỹ 408.377 30.382 264.825 -22,1 -33,3 -35,2
Indonesia 92.062 9.723 104.205 45,6 20,5 13,2
Italia 10.351 4.593 64.633 32,5 22,6 524,4
Malaysia 75.692 1.657 27.738 -3,9 -58,2 -63,4
Mêhicô 1.415 150 2.302 -18,7 109,7 62,7
Nhật Bản 4.391 90 4.538 -85,4 -70,2 3,3
Australia 14.055 2.423 13.770 0,6 72,9 -2,0
Pháp 23.728 2.188 24.874 -1,3 -24,3 4,8
Philippin 14.776 2.018 19.254 44,2 10,0 30,3
Singapore 21.978 1.636 15.844 4,1 -41,4 -27,9
Tây Ban Nha 33.611 939 10.989 24 -62,7 -67,3
Thái Lan 98.272 6.024 76.113 -18,8 -53,4 -22,6
Trung Quốc 262.793 16.644 163.106 17,6 -2,8 -37,9

Ngoài ra nguồn nguyên liệu sản xuất TĂCN còn bao gồm các loại: lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về các nguyên liệu sản xuất TĂCN năm 2017

Mặt hàng

Năm 2016 Năm 2017 So với cùng kỳ
Lượng (1000 tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (1000 tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (%) Trị giá (%)
Lúa mì 4.743 1.004.993 4.659 993.642 – 1,8 – 1,1
Ngô 8.444 1.672.566 7.727 1.504.277 – 8,5 – 10,1
Đậu tương 1.543 660.985 1.645 707.947 6,5 7,1
Dầu mỡ động thực vật 701.499 761.089 8,5

(Nguồn: Vinanet tổng hợp số liệu thống kê của TCHQ)

 

Đậu tương:

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 12/2017 đạt 174 nghìn tấn với giá trị 75 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương năm 2017 đạt hơn 1,4 triệu tấn và 707 triệu USD, tăng 6,45% về khối lượng và tăng 7,1% về trị giá so với năm 2016.

Ngô:

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 12/2017 đạt 488 nghìn tấn với giá trị đạt 92 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô năm 2017 đạt 7,7 triệu tấn và 1,5 tỉ USD, giảm 8,5% về khối lượng và giảm 10,06% về trị giá so với năm 2016. Achentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính trong năm 2017, chiếm lần lượt là 50% và 30% tổng giá trị nhập khẩu. Đặc biệt, trong năm 2017 khối lượng nhập khẩu ngô của thị trường Thái Lan tăng hơn 11 lần so với năm 2016 nhưng trị giá lại chỉ tăng hơn 1,5 lần.

Lúa mì:

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 12/2017 đạt 364 nghìn tấn với giá trị đạt 76 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này năm 2017 lên 4,6 triệu tấn, với trị giá 993 triệu USD, giảm 1,77% về khối lượng và giảm 1,13% về trị giá so với năm 2016. Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong năm 2017 là Australia, chiếm tới 43%; tiếp đến là Canada chiếm 20%, thị trường Nga chiếm 14%, thị trường Brazil chiếm 2% và thị trường Mỹ 1% trong tổng giá trị nhập khẩu lúa mỳ. Các thị trường nhập khẩu lúa mì hầu hết đều tăng cả về khối lượng và trị giá so với năm 2016 ngoại trừ thị trường Mỹ và Brazil. Trong năm 2017, thị trường Canada tăng vượt trội cả về lượng và trị giá, với khối lượng nhập khẩu tăng hơn 14 lần và trị giá tăng hơn 11 lần. Thị trường có lượng và trị giá nhập khẩu giảm mạnh nhất so với năm 2016 là Mỹ và Brazil (giảm 78% và gần 67% theo thứ tự lần lượt).

 

THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

Sắn và các sản phẩm từ sắn:

Số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam, xuất khẩu sắn và sản phẩm trong tháng 11 tăng cả lượng và trị giá so với tháng 10, tăng lần lượt 22% và 23,6%, đạt tương ứng 374,7 nghìn tấn, trị giá 179,9 triệu USD, – đây là tháng có lượng xuất giảm thứ hai liên tiếp – tính chung 11 tháng đầu 2017 đã xuất khẩu 3,5 triệu tấn, trị giá 909,4 triệu USD, tăng 4,92% về lượng và tăng 0,35% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016.
Giá xuất khẩu bình quân trong 11 tháng 2017 khoảng 259,3 USD/tấn, giảm 4,3% so với giá xuất bình quân 11 tháng 2016 là 271,1 USD/tấn.
Riêng mặt hàng sắn trong tháng xuất 144,5 nghìn tấn, trị giá 24,9 triệu USD, tăng 32% về lượng và tăng 19,8% về trị giá so với tháng 10, nâng lượng sắn xuất khẩu 11 tháng 2017 lên 1,4 triệu tấn, trị giá 248 triệu USD, tăng 3,2% về lượng và tăng 1,7% về trị giá, giá xuất bình quân 170,5 USD/tấn, giảm 1,4% so với 11 tháng 2016.
Trung Quốc thị trường xuất khẩu chủ lực nhóm hàng này của Việt Nam, với vị trí địa lý gần và thuận lợi trong việc vận chuyển hàng hóa, lượng sắn xuất sang thị trường Trung Quốc chiếm 89,5% đạt 3,1 triệu tấn, trị giá 805,5 triệu USD, tăng 7,95% về lượng và tăng 3,4% về trị giá so với cùng kỳ. Giá xuất bình quân giảm 4,2%, xuống còn 256,6 USD/tấn.
Thị trường xuất khẩu lớn sau Trung Quốc là Hàn Quốc và Nhật Bản, tuy nhiên kim ngạch xuất sang hai thị trường này đều suy giảm cả lượng và trị giá, trong đó xuất sang Nhật Bản giảm mạnh nhất, giảm 19,7% về lượng và giảm 22,83% về trị giá, tương ứng với 65,8 nghìn tấn, trị giá 12 triệu USD.
Kế đến là thị trường Philippines, tăng 15,69% về lượng và tăng 2,22% về trị giá, đạt 46,5 nghìn tấn, trị giá 14,7 triệu USD.
Đặc biệt, trong 11 tháng 2017 Malaysia gia tăng nhập khẩu sắn và sản phẩm từ thị trường Việt Nam, tuy lượng nhập chỉ chiếm 1,3%, nhưng so với cùng kỳ 2016 tăng gấp hơn 1,2 lần.
Thị trường xuất khẩu ít nhất là Đài Loan (Trung Quốc), chỉ có 33,3 nghìn tấn, trị giá 11 triệu USD, so với cùng kỳ giảm cả lượng và trị giá, giảm lần lượt 0,77% và giảm 9,87%.
Xuất khẩu sắn và sản phẩm 11 tháng 2017
Thị trường XK 11 tháng 2017 So sánh với 11 tháng 2016 (%)
Lượng (Tấn) Trị giá (USD) Lượng Trị giá
Tổng 3.506.762 909.489.091 4,92 0,35
Trung Quốc 3.138.686 805.530.378 7,95 3,40
Hàn Quốc 75.307 17.123.003 -15,88 -21,20
Nhật Bản 65.808 12.062.034 -19,70 -22,83
Philippines 46.542 14.708.570 15,69 2,22
Malaysia 45.649 14.626.374 23,23 14,40
Đài Loan (Trung Quốc) 33.392 11.058.526 -0,77 -9,87
(tính toán số liệu từ TCHQ)

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ