TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI THÁNG 8/2017

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo Bộ NN&PTNT, tình hình chăn nuôi trâu, bò cả nước trong tháng 8/2017 không có biến động lớn, giá bán ổn định. Ước tính tổng số trâu cả nước tháng 8 năm 2017 giảm khoảng 0,5%, tổng số bò tăng khoảng 2,8% so với cùng kỳ năm 2016. Chăn nuôi lợn tại các trang trại, gia trại chăn nuôi lợn quy mô lớn tái đàn nhưng số lượng hạn chế, còn các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ thì ít hoặc không tái đàn. Ước tính tổng số lợn cả nước tháng 8 giảm khoảng 4% so với cùng kỳ năm 2016.

Chăn nuôi trâu, bò: Đàn trâu, bò cả nước trong tháng không có biến động lớn, giá bán ổn định. Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng số trâu cả nước tháng 8 giảm 0,5%, tổng số bò tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2016.

Chăn nuôi lợn: Giá thịt lợn trong tháng giữ ổn định ở mức thấp, người dân vẫn thận trọng trong việc đầu tư tái đàn, hiện tại hầu như chỉ các gia trại, trang trại chăn nuôi quy mô lớn tái đàn tuy nhiên số lượng rất hạn chế. Ước tính tổng số lợn cả nước trong tháng giảm 4% so với cùng kỳ năm 2016.

Chăn nuôi gia cầm: Giá trứng gà trong tháng đã tăng trở lại so với những tháng đầu năm 2017, các mô hình gia trại, trang trại được bà con quan tâm đầu tư nhiều hơn, tình hình nuôi và chất lượng đàn ngày càng tăng. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2016.

 KH. Chan nuoi viet nam 8

Dịch bệnh: Theo Cục Thú y, tính đến thời điểm 13/09/2017, tình hình dịch bệnh trong cả nước như sau:

 Dịch Cúm gia cầm (CGC)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước có 01 ổ dịch Cúm A/H5N1 tại xã Ninh Quới A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu chưa qua 21 ngày (đã qua 20 ngày).

Dịch Lở mồm long móng gia súc (LMLM)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước có 03 ổ dịch LMLM chưa qua 21 ngày, cụ thể:

- Tỉnh Gia Lai: ổ dịch tại xã Ia Sao, thị xã Ayun Pa.

- Tỉnh Đắk Lắk: ổ dịch tại xã Ea Nuôl, huyện Buôn Đôn và xã Cư bao, huyện Buôn Hồ.

Dịch Tai xanh trên lợn

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.

Nhận định tình hình dịch

Cúm gia cầm: Nguy cơ dịch phát sinh và lây lan trong thời gian tới là rất cao. Một số chủng vi rút cúm gia cầm chưa có ở Việt Nam (A/H7N9, A/H5N2, A/H5N8) có nguy cơ xâm nhiễm vào trong nước thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh, thành phố khác có tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu. Các địa phương cần chủ động trong công tác phòng, chống Cúm gia cầm; tăng cường kiểm soát và xử lý nghiêm việc nhập lậu gia cầm, giám sát chặt địa bàn để phát hiện và xử lý ổ dịch kịp thời.

Lở mồm long móng: Các địa phương thuộc khu vực có nguy cơ cao, nơi có ổ dịch cũ, có đàn gia súc chưa được tiêm phòng triệt để, đặc biệt các địa phương có dự án cung ứng con giống gia súc, xóa đói giảm nghèo cần tăng cường giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, tổ chức tiêm phòng vắc xin LMLM, kiểm soát chặt việc vận chuyển gia súc, quản lý giết mổ gia súc để giảm thiểu nguy cơ phát sinh, lây lan dịch.

Tai xanh trên lợn: Trong thời gian tới, có thể xuất hiện các ổ dịch nhỏ lẻ trên địa bàn có ổ dịch cũ và khu vực có nguy cơ cao. Các địa phương cần tăng cường giám sát dịch bệnh trên đàn lợn, phát hiện sớm ổ dịch, thực hiện nghiêm các qui định về kiểm dịch vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tăng cường kiểm soát giết mổ lợn, chủ động ngăn chặn dịch phát sinh và lây lan.

Các địa phương căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút Cúm gia cầm, Lở mồm long móng, Tai xanh và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2016 (văn bản số 2151/TY-DT ngày 24/10/2016) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

 

THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM CHĂN NUÔI

Trong tháng 8/2017, giá thịt lợn hơi trong nước giảm do nguồn cung thịt lợn trên thị trường vẫn rất dồi dào, trong khi đó, xuất khẩu theo đường chính ngạch và tiểu ngạch đều chưa có dấu hiệu khả quan.

Giá thịt lợn hơi trong nước giảm trong tháng 8/2017 do nguồn cung thịt lợn trên thị trường vẫn rất dồi dào. Trong khi đó, xuất khẩu theo đường chính ngạch và tiểu ngạch đều chưa có dấu hiệu khả quan. Giá lợn hơi tại nhiều tỉnh ở vùng Đông Nam Bộ và ĐBSCL giảm 4.000 – 5.000 đ/kg xuống còn 30.000 – 32.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại các tỉnh miền Bắc cũng có xu hướng giảm. Giá lợn hơi tại huyện Hải Hậu, Nam Định giảm 2.000 đ/kg, hiện đang ở mức 31.000 đ/kg.

Trái chiều với giá lợn hơi, giá gà thịt lông màu tại các tỉnh vùng Đông Nam Bộ và ĐBSCL biến động tăng do nhu cầu thịt gia cầm khởi sắc. Giá gà thịt lông màu tăng 3.000 đ/kg lên 31.000 – 34.000 đ/kg.

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU

Thức ăn gia súc và nguyên liệu nhập khẩu: 

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu trong tháng 8/2017 đạt 233 triệu USD, tăng 7,13% so với tháng trước đó nhưng giảm 40,53% so với cùng tháng năm ngoái.

Tính chung, trong 8 tháng đầu năm 2017 Việt Nam đã chi hơn 2,2 tỉ USD nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu, giảm 1,24% so với cùng kỳ năm trước đó.

Trong 8 tháng đầu năm 2017, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam từ một số thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh, thứ nhất là Italia với hơn 50 triệu USD, tăng 845,63% so với cùng kỳ; đứng thứ hai là Canada với hơn 45 triệu USD, tăng 458,04% so với cùng kỳ; Chilê với hơn 6 triệu USD, tăng 103,11% so với cùng kỳ, sau cùng là Mêhicô với hơn 1,6 triệu USD, tăng 99,4% so với cùng kỳ.

Các thị trường chính cung cấp TĂCN và nguyên liệu cho Việt Nam trong tháng 8/2017 là Achentina, Trung Quốc, Canada, Đài Loan… Trong đó, Achentina là thị trường chủ yếu Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này với 130 triệu USD, tăng 7,85% so với tháng trước đó nhưng giảm 32,94% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ nước này trong 8 tháng đầu năm 2017 lên hon 1 tỉ USD, chiếm 48,4% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng, tăng 4,92% so với cùng kỳ năm trước đó – đứng đầu về thị trường cung cấp TĂCN và nguyên liệu cho Việt Nam. Kế đến là thị trường Trung Quốc với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 8/2017 đạt hơn 11 triệu USD, giảm 11,52% so với tháng 7/2017 và giảm 63,8% so với cùng tháng năm trước đó. Tính chung, trong 8 tháng đầu năm 2017 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ thị trường này đạt hơn 100 triệu USD, giảm 48,68% so với cùng kỳ năm trước đó.

Kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ Achentina tăng trong 8 tháng đầu năm 2017, do nguồn nguyên liệu từ thị trường này dồi dào – thị trường TĂCN và nguyên liệu tiềm năng của Việt Nam.

Đứng thứ ba về kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu trong tháng 8/2017 là Canada với trị giá hơn 10 triệu USD, tăng 36,01% so với tháng trước đó và tăng 1.285,4% so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2017 lên hơn 45 triệu USD, tăng 458,04% so với cùng kỳ năm trước đó.

Ngoài ba thị trường kể trên, Việt Nam nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ các thị trường khác nữa như: Hoa Kỳ, Ấn Độ, Brazil, Indonesia và Italia với kim ngạch đạt 181 triệu USD, 95 triệu USD, 77 triệu USD; 70 triệu USD; và 53 triệu USD.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu tháng 8/2017 và 8 tháng đầu năm 2017

ĐVT: nghìn USD

KNNK 8T/2016 KNNK T8/2017 KNNK 8T/2017 +/- so với T7/2017 (%) +/- so với T8/2016 (%) +/- so với 8T/2016 (%)
Tổng KN

2.248.429

233.248

2.220.537

7,1

-40,5

-1,2

Achentina

1.023.996

130.011

1.074.373

7,9

-32,9

4,9

Ấn Độ

53.739

6.296

95.771

-9,6

28

78,2

Anh

808

1.283

58,8

Áo

77.029

1.204

47.046

-58,2

-91,0

-38,9

Bỉ

7.084

546

8.358

-10,5

-30,5

18

Brazil

94.568

3.961

77.463

-26

-85,2

-18,1

UAE

52.142

4.409

50.518

-23,2

-59,2

-3,1

Canada

8.093

10.490

45.165

36,0

1.285,4

458,0

Chilê

3.333

1.242

6.769

48,5

103,1

Đài Loan

47.672

8.654

53.289

-12,9

28,7

11,8

Đức

3.985

804

5.155

20,2

31,9

29,4

Hà Lan

19.442

1.219

14.562

-0,9

-49,9

-25,1

Hàn Quốc

24.300

3.890

23.520

7,6

7,4

-3,2

Hoa Kỳ

237.940

6.628

181.795

-3,4

-82,7

-23,6

Indonesia

60.742

6.330

70.504

103,2

-41,1

16,1

Italia

5.338

1.120

50.480

-75,2

74

845,6

Malaysia

62.191

2.016

19.217

12,2

-25,7

-69,1

Mêhicô

841

43

1.678

-41,7

29,8

99,4

Nhật Bản

3.316

426

3.249

105,0

95,0

-2,0

Australia

9.055

207

8.247

-35,1

-90,8

-8,9

Pháp

13.842

1.247

17.301

-18

-50,1

25

Philippin

9.002

944

12.034

-55,4

19,1

33,7

Singapore

12.974

1.304

10.249

162,7

-27,1

-21,0

Tây Ban Nha

25.687

480

7.688

-14,1

-85,7

-70,1

Thái Lan

61.546

7.477

53.481

50,2

-34,3

-13,1

Trung Quốc

196.403

11.717

100.789

-11,5

-63,8

-48,7

Ngoài ra nguồn nguyên liệu sản xuất TĂCN còn bao gồm các loại: lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về các nguyên liệu sản xuất TĂCN trong 8 tháng đầu năm 2017

Mặt hàng

8T/2016

8T/2017

So với cùng kỳ

Lượng (1000 tấn)

Trị giá (nghìn USD)

Lượng (1000 tấn)

Trị giá (nghìn USD)

Lượng (%)

Trị giá (%)

Lúa mì

2.705

578.153

3.382

704.796

25,02

21,9

Ngô

4.385

859.892

4.825

958.419

10,02

11,46

Đậu tương

1.005

419.371

1.186

509.685

17,91

21,54

Dầu mỡ động thực vật

413.426

471.009

13,93

(Nguồn: Vinanet tổng hợp số liệu thống kê của TCHQ)

Lúa mì: 

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 8/2017 đạt 325 nghìn tấn với giá trị đạt 68 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này 8 tháng đầu năm 2017 lên hơn 3,3 triệu tấn, với trị giá 704 triệu USD, tăng 25,02% về khối lượng và tăng 21,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 8 tháng đầu năm 2017 là Australia, chiếm tới 44%; tiếp đến là Canada chiếm 25%, thị trường Brazil chiếm 3%, thị trường Nga chiếm 2% và thị trường Hoa Kỳ chiếm 1 phần rất nhỏ trong tổng giá trị nhập khẩu lúa mỳ. Các thị trường nhập khẩu lúa mì hầu hết đều giảm cả về khối lượng và giá trị so với cùng kỳ năm 2016 ngoại trừ thị trường Canada. Trong 8 tháng đầu năm 2017, khối lượng nhập khẩu lúa mì tăng hơn 15 lần và giá trị tăng hơn 11 lần. Thị trường có giá trị nhập khẩu giảm mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là Brazil (giảm gần 69%).

Đậu tương: 

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 8/2017 đạt 162 nghìn tấn với giá trị 67 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương 8 tháng đầu năm 2017 đạt hơn 1,1 triệu tấn và 509 triệu USD, tăng 17,91% về khối lượng và tăng 22,54% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Ngô: 

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 8/2017 đạt 591 nghìn tấn với giá trị đạt 112 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 8 tháng đầu năm 2017 đạt 4,8 triệu tấn và 958 triệu USD, tăng 10,02% về khối lượng và tăng 11,46% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Achentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính trong 8 tháng đầu năm 2017, chiếm lần lượt là 55% và 18% tổng giá trị nhập khẩu. Đặc biệt, trong 8 tháng đầu năm 2017, khối lượng nhập khẩu ngô của thị trường Thái Lan tăng hơn 14 lần so với cùng kỳ năm 2016 nhưng giá trị lại chỉ tăng có hơn 3,2 lần.

Sắn và các sản phẩm từ sắn XK:

Tháng 8/2017, xuất khẩu sắn và sản phẩm tăng 1,9% về lượng và tăng 2,1% về trị giá so với tháng 7, đạt tương ứng 285,1 nghìn tấn, trị giá 71,5 triệu USD, nâng lượng sắn xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2017 lên 2,5 triệu tấn, trị giá 643,7 triệu USD, tăng 0,3% về lượng nhưng giảm 7,3% về trị giá. Giá xuất khẩu trung bình 8 tháng 2017 giảm 7,6% so với 8 tháng 2016, xuống còn 248,7 USD/tấn (269,3 USD/tấn).
Tính riêng mặt hàng sắn, tháng 8 đã xuất khẩu 134,5 nghìn tấn, trị giá 23,2 triệu USD, tăng 4,7% về lượng và tăng 1,9% về trị giá, nâng lượng sắn xuất khẩu 8 tháng 2017 lên 1,1 triệu tấn, trị giá 188,3 triệu USD, giảm 9,5% về lượng và giảm 13,1% về trị giá so với cùng kỳ.
Với vị trí địa lý gần và giao nhận vận chuyển hàng hóa thuận lợi, Trung Quốc là thị trường chủ lực xuất khẩu sắn và sản phẩm của Việt Nam, chiếm 88% tổng lượng xuất khẩu, đạt 2,2 triệu tấn, trị giá 555,6 triệu USD, tăng 1,44% về lượng nhưng giảm 6,29% về trị giá so với cùng. Tính riêng tháng 8, lượng sắn xuất sang thị trường Trung Quốc đạt 255,1 nghìn tấn, trị giá 63,8 triệu USD.
Thị trường lớn dứng thứ hai là Hàn Quốc, tuy nhiên lượng xuất sang thị trường này giảm 5,01% nhưng kim ngạch lại tăng trưởng so với cùng kỳ, tương ứng với 67,9 nghìn tấn, trị giá 15,4 triệu USD. Kế đến là thị trường Nhật Bản với lượng xuất 48,3 nghìn tấn, trị giá 8,6 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ đều giảm cả lượng và trị giá, giảm lần lượt 19,79% và giảm 25,14% – đây là thị trường giảm mạnh nhất.
Đáng chú ý, xuất khẩu sắn và sản phẩm sang thị trường Malaysia tuy chỉ đạt 39,4 nghìn tấn, nhưng so với cùng kỳ lại có tốc độ tăng mạnh vượt trội, tăng 42,38%.
Thị trường xuất khẩu sắn và sản phẩm 8 tháng 2017
Thị trường 8 tháng 20172017 So sánh cùng kỳ năm 2016 (%)
Lượng trị giá Lượng trị giá
Tổng 2.588.206 643.761.115 0,72 -7,00
Trung Quốc 2.274.624 555.681.296 1,44 -6,29
Hàn Quốc 67.934 15.420.452 -5,01 -9,71
Nhật Bản 48.375 8.690.031 -19,79 -25,14
Philippin 41.150 13.009.610 27,66 9,23
Malaixia 39.467 12.496.211 42,38 26,42
Đài Loan 26.326 8.570.038 -4,51 -16,65
(tính toán theo số liệu của TCHQ)

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ