Ảnh hưởng của bổ sung Bacillus subtilis lên hiệu quả sử dụng thức ăn và chất lượng quày thịt gà Ross 308

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của mức độ bổ sung Bacillus subtilis lên hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà thịt. Tổng số 102 con gà Ross 308 lúc 1 ngày tuổi được nuôi trong chuồng hở và được bố trí vào 3 nghiệm thức (NT) với 3 lần lặp lại. Gà được cho ăn tự do bằng thức ăn hỗn hợp theo 3 giai đoạn tuổi 0-14, 15-28 và 29-42 ngày tuổi theo sự chỉ dẫn của Công ty TNHH De Heus Việt Nam ở NT1 (đối chứng), trong khi ở NT2 và NT3, gà được bổ sung thêm Bacillus subtilis (≥ 1011CFU/g) với liều lượng 1 và 2g pha với 5 lít nước và cho uống liên tục 4 ngày đầu tiên mỗi tuần cho đến khi giết thịt lúc 42 ngày tuổi. Hệ số chuyển hóa thức ăn và một số tính trạng về chất lượng thịt được ghi nhận. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các NT về mức tiêu thụ thức ăn, pH, độ rỉ dịch và mất nước sau nấu của thịt sau giết mổ. Bổ sung Bacillus subtilis giúp cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn nhưng không cải thiện các điểm tính trạng chất lượng quày thịt.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, việc sử dụng probiotics trong chăn nuôi gia cầm nói riêng và chăn nuôi nói chung đã trở nên phổ biến và không thể thiếu được trong quy trình sản xuất, đặc biệt khi kháng sinh được khuyến cáo sử dụng giới hạn và một số kháng sinh thậm chí không được phép sử dụng. Probiotics được định nghĩa là vi sinh vật sống có thể mang lại lợi ích sức khỏe cho vật chủ khi được dùng với số lượng thích hợp và thường xuyên. Một khi đã xâm nhập vào cơ thể vật chủ, các vi sinh vật giúp điều chỉnh sự cân bằng hệ vi khuẩn đường tiêu hóa theo hướng có lợi cũng như cân bằng nội môi ruột và nâng cao miễn dịch ruột (Chaucheyras-Durand và Durand, 2010), tăng năng suất, cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn ở vật nuôi (Yirga, 2015). Vì vậy, chúng thường được gọi là lợi khuẩn đường ruột. Trong nghiên cứu này, Bacillus subtilis với mật độ ≥1011CFU/g do Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nghiên cứu và sản xuất sẽ được bổ sung trong qui trình nuôi nhằm đánh giá khả năng tăng khối lượng (TKL), tiêu tốn thức ăn (TTTA) và chất lượng thịt ở gà Ross 308.

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 9-12/2018 trên 102 con gà Ross 308 từ 1 ngày tuổi đến 42 tuần tuổi tại Trung tâm Giống Cây trồng, Vật nuôi, Thủy sản Cần Thơ (Ô Môn, TP Cần Thơ). Gà được cho ăn tự do thức ăn của Công ty TNHH De Heus Việt Nam theo từng giai đoạn tuổi khác nhau: 0-14 ngày tuổi cho ăn loại thức ăn ký hiệu 6620, 15-28 ngày tuổi cho ăn loại 6830 và 29-42 ngày tuổi cho ăn loại 6930 (Đỗ Võ Anh Khoa, 2019).

Tất cả gà được phân chia trong 3 nghiệm thức (NT), mỗi NT 3 lần lặp lại, lặp lại lần 1 và 2 là 10 con, lần 3 là 14 con, mật độ nuôi 0,3 m2 / con. Các NT gồm:

NT1 (đối chứng): ăn tự do thức ăn De Heus

NT2: ăn tự do thức ăn De Heus + pha 1g Bacillus subtilis với 5l nước cho gà uống liên tục trong 4 ngày đầu tuần.

NT3: ăn tự do thức ăn De Heus + pha 2g Bacillus subtilis với 5l nước cho gà uống liên tục trong 4 ngày đầu tuần.

Trong thời gian thí nghiệm, các chỉ tiêu về KL (g/con), TKL (g/con/ngày), TTTA (g/con/ ngày) và hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) sẽ được ghi nhận và tính toán. Đến 42 ngày tuổi, chọn 10 con có KL trung bình của mỗi NT mổ khảo sát để đánh giá một số chỉ tiêu về chất lượng thịt như pH, độ rỉ dịch, mất nước sau nấu, vật chất khô, đạm thô, béo thô của thịt ức và thịt đùi.

Giá trị pH được đo trực tiếp bằng máy pH cầm tay HI 8314 (Hanna Instruments, Padova, Ý) trên cơ tại một số thời điểm sau hạ thịt. Trước khi đo, máy được hiệu chỉnh về giá trị pH 4.0 và 7.0 (Cömert và ctv, 2016).

Độ rỉ dịch được thực hiện bằng cách cắt các mẫu thịt với kích thước tương đương nhau bỏ trong túi nhựa, rồi treo lên giá đỡ sao cho mẫu thịt không chạm đáy túi. Treo túi thịt trong tủ lạnh ở 4o C. Tỷ lệ giảm KL trong suốt thời gian bảo quản là độ rỉ dịch của thịt (Guan và ctv, 2013).

Mất nước sau nấu được thực hiện bằng cách cắt mẫu thịt khoảng 1cm3 và cân. Sau đó ngâm thịt trong nước nóng khoảng 10 phút ở nhiệt độ 85o C cho đến khi nhiệt độ bên trong mẫu thịt đạt 75o C thì lấy thịt ra để ráo và cân lại. Tỷ lệ giảm KL trước và sau khi ngâm chính là tỷ lệ mất nước sau nấu (Bertram và ctv, 2003).

Vật chất khô, đạm thô và béo thô được phân tích theo qui trình AOAC (1984). Trong đó: (i) đạm thô được công phá bằng máy DKL8 (Thomas Scientific, Ý), chưng cất bằng máy VELP UDK 149 (VELP Scientifica, Ý) và phương pháp Kjeldahl; và (ii) hàm lượng béo thô được xác định bằng cách ly trích trong Petroleum Ether khan bằng bộ chiết chất béo ANKOM XT15 Extractor (Ankom, New York, Mỹ). Các hóa chất và dụng cụ sử dụng trong phân tích được mua từ hãng AnkomMỹ (túi Ankom), hãng Scharlau-Tây Ban Nha (Petroleum Ether, H2 SO4 95-98%, Methyl Red, Ethanol), hãng Velp-Ý (viên xúc tác chứa 3,5g K2 SO4 +0,4g CuSO4 ), hãng Merk – Đức (NaOH), hãng Biobasic-Canada (H3 BO3, Bromocresol green), Công ty TNHH Cemaco Việt Nam (chất chuẩn HCl 0,1N).

Trước khi phân tích thành phần hóa học của thịt, các mẫu thịt ức hoặc thịt đùi của từng NT được thu thập, xay nhuyễn và trộn đều nhau (mẫu dồn, pooled sampling) ở mỗi NT. Như vậy, có tất cả 3 mẫu dồn của thịt ức và 3 mẫu dồn của thịt đùi tương ứng với 3 NT. Các mẫu này sẽ được phân tích lặp lại 3 lần.

Số liệu về các chỉ tiêu chuyển hóa thức ăn và chất lượng quày thịt được thu thập và xử lý thống kê mô tả bằng phần mềm MS Excel 2013 và phân tích ANOVA (1 chiều và 2 chiều) và trung bình mẫu được so sánh giữa 2 nhóm loại thịt (Pairwise comparisons of means). Dữ liệu phân tích bằng chương trình R (version 3.4.2) gói Rcmdr.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Probiotics có tác dụng cải thiện sự thay đổi trong hệ vi khuẩn đường ruột, tăng cường sự phát triển của vi khuẩn không gây bệnh, sự hình thành axít lactic và hydro peroxide, ngăn chặn sự phát triển của mầm bệnh đường ruột và tăng cường tiêu hóa và sử dụng chất dinh dưỡng (Yirga, 2015). Trong nghiên cứu này, khi kết hợp bổ sung Bacillus subtilis vào nước uống trong quá trình nuôi gà Ross 308 bằng thức ăn hỗn hợp của Công ty TNHH De Heus ghi nhận được một số kết quả.

3.1. Hệ số chuyển hóa thức ăn
Qua phân tích thống kê cho thấy, KL của gà ở đầu kỳ thí nghiệm giữa các NT dao động trong khoảng 44,12-45,58 g/con (P>0,05). Michalczuk và ctv (2011) đề nghị rằng nuôi gà Ross 308, nên chọn gà có KL mới nở >40 g/con, bởi vì những gà có KL nhỏ hơn có thể có tốc độ sinh trưởng tốt nhưng KL sống lúc 42 ngày tuổi lại thấp hơn.

Kết quả nghiên cứu cho thấy (i) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về TTTA giữa các NT (P=0,007) và (ii) không có sự khác biệt giữa KL: đầu kỳ, cuối kỳ, TKL và FCR giữa các NT (P>0,05). Điều này cho thấy việc bổ sung Bacillus subtilis sẽ giúp cải thiện khả năng hấp thu thức ăn ở gà. Tuy vậy, (i) xét về mặt số học thì KL cuối kỳ của gà ở NT1 là cao nhất, kế đến là NT3 và cuối cùng là NT2. Khối lượng cơ thể sống có liên quan đến đến KL ức, đùi và cánh của gà Ross 308 tại thời điểm 42 ngày tuổi. Những gà có KL lớn sẽ có ức, đùi và cánh lớn (Đỗ Võ Anh Khoa, 2019). Đây là các phần có giá trị kinh tế nhất, nhất là KL cánh và đùi đối với chăn nuôi gà thịt công nghiệp tại Việt Nam; và (ii) xét về mặt kinh tế thì FCR thấp sẽ giúp người chăn nuôi tăng thêm lợi nhuận.
Trong nghiên cứu này, FCR ở các NT giảm dần theo mức độ bổ sung tăng dần của Bacillus subtilis, thấp nhất là ở NT3 và cao nhất là NT1. Như vậy, việc bổ sung probiotics nhằm giảm thiểu bệnh đường tiêu hóa, nâng cao hệ miễn dịch và giảm thiểu thuốc thú y trong quá trình nuôi dưỡng là mục tiêu quan trọng, hướng đến sản phẩm chăn nuôi sạch và an toàn trong tương lai. So với nghiên cứu của Naeemasa và ctv (2015) thì trong 42 ngày đầu của gà Ross 308 có (i) mức tiêu tốn thức ăn tương đương (101-106 g/con/ngày), (ii) TKL tương đương (55,7-62,0 g/ con/ngày), nhưng FCR cao hơn (1,69-1,84). Sự khác nhau này có thể là do chất lượng thức ăn quyết định (i.e. nguyên liệu, dưỡng chất tiêu hóa,…), bao gồm cả mùi và hương vị thức ăn.

Trong một nghiên cứu khác, Pournazari (2016) chỉ ra rằng khi bổ sung Bioplus 2B (một loại probiotic) vào thức ăn cho gà Ross 308 sẽ giúp gà tiêu thụ một lượng thức ăn 115,85 g/con/ngày, TKL 64,07 g/con/ngày và FCR là 1,81. Kefali và ctv (2007) cho rằng chế phẩm Bioplus 2B chứa Bacillus licheniformis và Bacillus subtilis. So với Bacillus subtilis thì Bioplus 2B chứa nhiều chủng lợi khuẩn hơn nhưng FCR không tốt hơn. Điều này cũng đồng tình với nhận định của Yirga (2015) rằng probiotics không phải là thực thể đơn lẻ. Các probiotics khác nhau chứa các vi sinh vật khác nhau có thể hoạt động khác nhau. Mức độ hiệu quả của probiotics tùy thuộc vào tỷ lệ sống và sự ổn định của các chủng, liều lượng, tần suất sử dụng, tương tác với một số loại thuốc, tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của vật nuôi cũng như ảnh hưởng của tuổi, stress và di truyền. Thêm vào đó, Torshizi và ctv (2010) cũng chỉ ra rằng, việc cung cấp Protexin (một loại probiotic chứa 9 chủng lợi khuẩn được sản xuất tại Anh Quốc) qua đường nước uống sẽ hiệu quả hơn đường trộn vào thức ăn cho gà Ross 308 trong giai đoạn 0-42 ngày tuổi. Cụ thể: lượng thức ăn ăn vào tương ứng là 103,41 và 104,02 g/con/ngày, TKL là 55,46 và 55,39 g/ con/ngày và FCR là 1,67 và 1,75. Việc bổ sung Protexin qua đường uống và ăn cũng làm thay đổi một số chỉ tiêu khảo sát có liên quan đến hệ miễn dịch ở gia cầm như plasma cholesterol, plasma triglyceride, phytohaemagglutinin,

KL lách, KL túi bursa so với đối chứng. Điều này củng cố thêm bằng chứng rằng probiotics giúp cải thiện chức năng miễn dịch, đặc biệt là miễn dịch ruột ở thú non. Từ những kết quả nghiên cứu cho thấy (i) FCR thấp hơn các nghiên cứu trước đó kể cả việc không bổ sung probiotic và (ii) chủng loại vi sinh vật và chất lượng probiotics là rất quan trọng trong việc tăng biến dưỡng, nâng giá trị và cải thiện FCR. USAID (2011) ngụ ý rằng một khi lượng protein khẩu phần cao thì giá của một đơn vị thức ăn sẽ đắt nhưng bù lại FCR sẽ thấp và điều này có lợi cho người nuôi vì số lượng thức ăn và tổng chi phí thức ăn sẽ thấp để tạo ra một đơn vị sản phẩm. Thực tế sản xuất cho thấy, những khẩu phần đạm cao và cân đối axít amin tốt sẽ rút ngắn thời gian nuôi, đồng thời tăng tỷ lệ nạc ở gia cầm.

3.2. Chất lượng quày thịt

Kết quả ở bảng 2 cho thấy (i) Có sự khác nhau về giá trị pH của thịt ức và thịt đùi tại thời điểm 15 phút, 12, 24, 48 và 72 giờ sau giết thịt (P≤0,01). Thịt ức có khuynh hướng giảm nhanh tại thời điểm sau 6 giờ và sau đó giá trị này không có sự biến động lớn đến thời điểm 48 giờ, trong khi đó giá trị pH của thịt đùi dường như không có sự thay đổi đáng kể sau giết thịt; (ii) Mức độ rỉ dịch của thịt tăng tuyến tính theo thời gian bảo quản và có sự khác biệt giữa thịt ức và thịt đùi tại thời điểm 15 phút sau giết thịt; (iii) Tỷ lệ mất nước sau nấu giữa thịt ức và đùi không có sự khác biệt tại các thời điểm sau giết thịt. Tỷ lệ mất nước tại thời điểm 72 giờ sau giết thịt cao nhất. Có lẽ đây là thời điểm mà quá trình phân hủy các dưỡng chất diễn ra nhanh nhất dưới sự cộng tác của vi sinh vật gây nhiễm tạo ra nhiều phân tử nước; và (iv) Có sự khác biệt giữa hàm lượng vật chất khô, đạm thô và béo thô giữa thịt ức và đùi (P=0,000). Thịt ức nhiều nước và đạm thô hơn thịt đùi, trong khi thịt đùi có nhiều mỡ hơn thịt ức. Sự khác biệt hay không khác biệt giữa thịt ức và thịt đùi về các chỉ tiêu thành phần hóa học chỉ mang giá trị tham khảo vì số lượng mẫu và sự lặp lại tương đối ít (do kinh phí hạn chế nên sử dụng mẫu dồn trong quá trình phân tích).

Hoan và Khoa (2016) khảo sát một số điểm chất lượng thịt ức của gà Ross 308 tại thời điểm 49 ngày tuổi được nuôi với mật độ 5 con/m2 nhận thấy (i) giá trị pH tại thời điểm 30 phút và 24 giờ sau giết thịt lần lượt là 6,14 và 5,57; (ii) độ rỉ dịch tại thời điểm 24 giờ sau giết mổ là 3,45%; (iii) hàm lượng vật chất khô là 25,4% và béo thô là 2,09%. Hầu hết các giá trị này tương đương với các thời điểm tương ứng trong nghiên cứu này ngoại trừ béo thô cao hơn ~1%. Hàm lượng béo thô cao hơn có thể là do sự khác nhau về ngày tuổi và khẩu phần giữa hai thí nghiệm.

Kết quả ở bảng 2 chỉ ra rằng: (i) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các NT về giá trị pH tại các thời điểm 15 phút, 24 và 48 giờ sau giết thịt (P<0,01). Nhìn chung, giá trị pH của NT1 cao hơn hai NT còn lại qua các thời điểm; (ii) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê cũng được tìm thấy đối với mức độ rỉ dịch tại các thời điểm 3, 6, 12, 24 và 48 giờ giữa 3 NT (P≤0,01). Thịt ở NT1 có mức độ rỉ dịch thấp nhất; (iii) sự khác nhau giữa các NT về tỷ lệ mất nước sau nấu tại thời điểm 15 phút, 3 và 48 giờ cũng được tìm thấy (P<0,01). Mất nước sau nấu ở NT1 là cao nhất. Để có một miếng thịt ngon thì sau khi giết mổ, thịt sẽ được được bảo quản lạnh lập tức và theo thời gian bảo quản lạnh thì giá trị pH giảm chậm, mức độ rỉ dịch và mất nước sau nấu thấp. Những chỉ tiêu này ngoài việc phản ánh chất lượng thịt còn được quy đổi ra giá trị miếng thịt. Như vậy, xét ở tiêu chí pH và độ rỉ dịch thì thịt ở NT1 ngon hơn; (iv) không có sự khác biệt giữa các NT về hàm lượng vật chất khô, đạm thô và béo thô mặc dù việc bổ sung Bacillus subtilis có khuynh hướng giảm chất béo thô trong thịt. Haščík và ctv (2014) cho rằng hàm lượng nước, đạm thô và béo thô của thịt ức lần lượt dao động trong khoảng 73,81-74,67%; 22,79- 23,09% và 1,51-2,04% và thịt đùi lần lượt dao động trong khoảng 66,69-68,66%; 18,99-19,25 và 10,96-14,11%.

Kết quả ở Bảng 3 cho thấy không có sự tương tác giữa các NT và hai loại thịt đối với các chỉ tiêu pH, độ rỉ dịch, mất nước sau nấu, hàm lượng vật chất khô, đạm thô và béo thô.

4. KẾT LUẬN
Gà Ross 308 nuôi trong hệ thống chuồng hở sử dụng thức ăn De Heus có hệ số chuyển hóa thức ăn là 1,65. Hệ số này được các Chủ trang trại chăn nuôi gà thịt ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ cho là tốt ở Việt Nam hiện nay. Chất lượng thịt ở nghiệm thức cho ăn thức ăn De Heus là tốt nhất. Bổ sung Bacillus subtilis không cải thiện TKL nhưng cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn.

Đỗ Võ Anh Khoa1 *, Nguyễn Thị Diệu Thúy2 , Vũ Thị Tiến2 , Đinh Thị Ngọc Thúy2 ,
Bùi Thị Trà Mi3 , Nguyễn Thị Hồng Tươi4 và Nguyễn Thảo Nguyên5

1 Trường Đại học Cần Thơ
2 Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam
3 Trường Đại học Nông lâm TP.HCM
4 NCS ngành Chăn nuôi, Trường Đại học Cần Thơ
5 Chi hội Chăn nuôi Cần Thơ, Hội Chăn nuôi Việt Nam

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ