Bảo tồn và khai thác nguồn gen lợn Táp Ná

1. NGUỒN GỐC

Cao Bằng là một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, đã và đang sở hữu một nguồn gene vật nuôi bản địa quý đó là giống lợn Táp Ná.

Giống lợn Táp Ná (TN) có nguồn gốc từ một giống lợn địa phương của vùng núi Cao Bằng. Do điều kiện địa lý, đồi núi cao hiểm trở, việc thông thương có nhiều hạn chế, người dân nuôi lợn ở vùng núi huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng chỉ giao dịch mua bán lợn tại chợ Táp Ná. Chính vì vậy, giống lợn nội Việt Nam này dần dần được nhân dân đặt tên là giống lợn Táp Ná.

Táp Ná là một giống lợn nội của Việt Nam, được hình thành từ lâu đời chủ yếu ở huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng. Giống lợn nội Táp Ná thuộc lớp động vật có vú (Maminalia), thuộc bộ guốc chẵn (Artiodactyla), thuộc họ Sllidae, thuộc chủng Sus và thuộc loài Sus domesticus.

Lý do giống lợn Táp Ná đến nay vẫn giữ được độ thuần chủng nhất định là vì chúng được nuôi tại một vùng núi cao, nơi mà nền kinh tế còn kém phát triển, điều kiện địa lý xa xôi, núi non hiểm trở và đặc biệt hệ thống giao thông rất kém nên việc pha tạp với các giống lợn nhập ngoại và lợn nội khác của vùng đồng bằng hầu như không thể thực hiện được. Vì vậy, giống lợn Táp Ná vẫn giữ được mức độ cao về thuần chủng, chưa bị lai tạp nhiều với các giống lợn nội và ngoại khác, song bị cận huyết khá cao.

Lý do giống lợn Táp Ná vẫn chưa bị tuyệt chủng, còn tồn tại được đến nay là vì chúng rất dễ nuôi: phàm ăn, ăn khoẻ, ăn bất cứ loại thức ăn nào kể cả loại thức ăn mà hầu như không có chất dinh dưỡng, chống chịu bệnh tật rất tốt: hầu như không bị bệnh kể cả nuôi trong điều kiện hoang vu sơ đẳng, mất vệ sinh và dân trí hiểu biết về chăn nuôi lợn quá lạc hậu, không có sự xâm nhập của các giống lợn khác và đặc biệt chất lượng thịt thơm ngon, đã thực sự trở thành thịt lợn đặc sản nên giá bán đắt, dẫn đến hiệu quả cao. Với những ưu điểm đó, giống lợn Táp Ná vẫn là nguồn cung cấp thịt lợn chủ yếu cho vùng núi cao hiểm trở này nên lợn Táp Ná vẫn được duy trì nuôi và chưa bị tuyệt chủng.

2. PHÂN BỐ

Ngoài nuôi phổ biến ở các bản làng hẻo lánh trên các vùng núi cao hiểm trở của huyện thông Nông, tỉnh Cao Bằng. Lợn Táp Ná còn được nuôi ở một số vùng núi cao của một số huyện khác của tỉnh Cao Bằng và một số tỉnh lân cận thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam.

3. ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH

Hầu hết, các nghiên cứu trên giống lợn Táp Ná của Nguyễn Văn Đức (2002), Nguyễn Văn Đức và ctv (2004), Đặng Đình Trung và ctv (2007), Nguyễn Văn Đức (2012), Nguyễn Thị Thủy Tiên và ctv (2013) đều khẳng định:

Ngoại hình của giống lợn Táp Ná có nhiều nét tương tự như giống lợn nội Móng Cái (MC). Lợn Táp Ná có màu sắc lông da rất đặc trưng: Lông và da đều đen, ngoại trừ 6 điểm trắng: giữa trán, 4 cẳng chân và chóp đuôi, đặc biệt bụng của lợn Táp Ná có màu đen và không có dải yên ngựa màu trắng bắt qua vai như giống lợn MC. Song, lợn Táp Ná có những điểm ngoại hình khác với các giống lợn nội khác ở nước ta khá rõ nét (Nguyễn Văn Đức, 2012; Nguyễn Thị Thủy Tiên và ctv, 2013):

– Đầu lợn Táp Ná to vừa phải.

– Tai của nó hơi rủ cúp xuống.

– Bụng tuy to nhưng không to bằng giống lợn MC và đó là nét đặc trưng cho giống lợn này là bụng không bị sệ và võng xuống như giống lợn MC.

– Chân to, cao và chắc khoẻ như giống lợn Mẹo ở Nghệ An.

– Lưng tương đối thẳng.

– Mặt thẳng, mặt không nhăn nheo như lợn Ỉ.

– Lợn cái Táp Ná thường có từ 8 đến 12 vú, nhưng phổ biến nhất là 10 vú.

heo táp ná

4. KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU BỆNH CỦA GIỐNG LỢN TÁP NÁ

Khả năng chống chịu bệnh tật của giống lợn Táp Ná được đánh giá là tốt nhất trong số các giống lợn nội Việt Nam (Nguyễn Văn Đức, 2002; Đặng Đình Trung và ctv, 2007; Đặng Đình Trung và ctv, 2007a; Nguyễn Văn Đức, 2012; Nguyễn Thị Thủy Tiên và ctv, 2013).

Theo kết quả điều tra và nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chết của lợn nái và đực giống, lợn con từ sơ sinh đến cai sữa cũng như lợn trong giai đoạn nuôi vỗ béo khai thác thịt của giống Táp Ná nuôi tại huyện Thông Nông rất thấp, chỉ chiếm 3-4%. Chính vì vậy, giống lợn Táp Ná vẫn đang được tồn tại nuôi tại vùng núi phía Bắc nước ta, phổ biến ở tỉnh Cao Bằng và vùng lân cận vì trong điều kiện gần như hoang dã, mất vệ sinh, đầu tư, chăm sóc nuôi dưỡng rất kém, song lợn Táp Ná hầu như không bị bệnh tật gì mà vẫn sinh trưởng phát triển được, tuy tốc độ lớn chậm, nhưng bù lại thịt có mùi vị thơm ngon, rất được người tiêu dung ưa chuộng. Đây là một đặc điểm quý của lợn Táp Ná mà chúng ta cần khai thác và phát triển ra sản xuất.

5. KHẢ NĂNG SẢN XUẤT

5.1. Khả năng sinh trưởng và cho thịt

Kết quả điều tra trong thực tế ở các hộ thuộc các bản xa xôi, hẻo lánh của huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng và trực tiếp thực hiện nghiên cứu trên đàn lợn Táp Ná nuôi tại nông hộ huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng cho thấy năng suất của một số tính trạng về khối luợng (KL) và tốc độ sinh trưởng, khả năng sản xuất thịt như tăng khối lượng (TKL) của giống lợn Táp Ná đạt mức trung bình của lợn nội nước ta và được trình bày chi tiết tại bảng 1. Tốc độ sinh trưởng của giống lợn Táp Ná nằm ở mức trung bình của các giống lợn nội Việt Nam. Khi nuôi thí nghiệm, khối lượng sơ sinh trung bình là 0,64kg và khối lượng trưởng thành trung bình đạt 101,16kg trong điều kiện nuôi tại các nông hộ có điều kiện chăn nuôi trung bình và 120 ở các hộ nuôi tốt (Đặng Đình Trung và ctv, 2007a).

Tốc độ sinh trưởng của giống lợn Táp Ná thấp hơn so với giống lợn Móng Cái (Nguyễn Văn Đức, 1997), nhưng tương đương lợn Lũng Pù nuôi tại Vị Xuyên (Trịnh Quang Phong và ctv, 2009; Trịnh Quang Phong, 2012).

Bảng 1. Tốc độ sinh trưởng và khả năng sản xuất của lợn giống Táp Ná nuôi trong nông hộ tại huyện Thông Nông (điều tra và thí nghiệm)

Tổng hợp số liệu điều tra của Nguyễn Văn Đức và ctv trong những năm 2002 và 2003 cho thấy khả năng tăng khối lượng của giống lợn Táp Ná nuôi trong nông hộ đạt mức trung bình, đó là 312,63±51,52 g/ngày. Như vậy, so với số liệu của đàn lợn Táp Ná nuôi thử nghiệm trong dân năm 2004 thì số liệu điều tra thấp hơn. Kết quả này tương đương như các giống lợn nội Móng Cái, Cỏ, Mẹo, ỉ và thấp hơn, tuy không nhiều so với giống lợn Mường Khương (Nguyễn Văn Đức, 2012).

Do tầm vóc nhỏ và khối lượng của giống lợn Táp Ná thấp nên chúng thường được nuôi kéo dài đến 10 tháng tuổi mới giết thịt. Khả năng tăng khối lượng của lợn Táp Ná nằm ở mức trung bình của các giống lợn nội Việt Nam, biến động trong phạm vi 180-384 g/ngày.

Để đánh giá đúng bản chất về khả năng cho thịt và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của giống lợn Táp Ná vì số liệu điều tra không thể đạt độ chính xác cao, một thí nghiệm được thực hiện nuôi vỗ béo ở Công ty Cổ phần giống và thức ăn chăn nuôi Cao Bằng và kết quả được trình bày tại Bảng 2.

Như vậy, áp dụng kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc tốt, nguồn thức ăn cung cấp đảm bảo cân đối về thành phần và giá trị dinh dưỡng thì khả năng tăng khối lượng của lợn thịt Táp Ná khá cao, trung bình đạt 350,27 g/ngày. Đến 8 tháng tuổi, khối lượng của giống lợn Táp Ná nuôi tại Công ty đạt trung bình 72,94 kg/con. Sự tăng khối lượng của giống lợn nội Táp Ná có sự khác biệt giữa lợn đực thiến và lợn cái: lợn đực thiến có khả năng tăng khối lượng cao hơn lợn cái trong cùng thời gian nuôi. Rõ ràng, nuôi dưỡng tốt thì tăng khối lượng cao hơn so với trong dân của Nguyễn Văn Đức (2002); Nguyễn Văn Đức và ctv (2004), nhưng tương đương so với công bố của Đặng Đình Trung và ctv (2007) và Nguyễn Văn Đức và ctv (2008).

Kết quả nghiên cứu về tiêu tốn thức ăn của giống lợn Táp Ná nuôi tại Công ty đạt mức trung bình, đó là 3,82 kg thức ăn/kg tăng khối lượng. Kết quả này tốt hơn so với các kết quả công bố của Đặng Đình Trung và ctv (2007); Nguyễn Văn Đức và ctv (2008); Nguyễn Văn Trung và ctv (2009).

Một số ý kiến của người chăn nuôi giống lợn Táp Ná ở vùng ven thị trấn huyện Thông Nông cho biết giống lợn Táp Ná nếu được nuôi và chăm sóc tốt, đáp ứng những nhu cầu cơ bản về dinh dưỡng và kỹ thuật chăn nuôi thích hợp, tăng khối lượng trung bình trong giai đoạn nuôi vỗ béo 3-10 tháng có thể đạt đến 400 g/ngày. Kết quả điều tra trên tổng số 32 con nuôi vỗ béo tại vùng ven thị trấn của huyện Thông Nông cho thấy tăng khối lượng trung bình đạt được 394 g/ngày.

Tại một thí nghiệm khác ở Công ty Giống và Thức ăn Chăn nuôi Cao Bằng cho thấy tăng khối lượng đạt cao hơn so với nuôi thí nghiệm trong dân với mức chênh lệc khá lớn (420,62+46,38 g/ngày và 405,27±48,86 g/ngày) và cao hơn nhiều so với kết quả điều tra nuôi trong nông hộ (312,63±51,52 g/ngày) kể cả thí nghiệm trong Công ty Giống và Thức ăn Chăn nuôi Cao Bằng trước đây (369,68±53,34 g/ngày). Như vậy, nếu nuôi tốt thì lợn Táp Ná cho năng suất tương đương giống lợn Móng Cái (Nguyễn Thị Thủy Tiên và ctv, 2013).

5.2. Khả năng sinh sản

Các kết quả nghiên cứu về khả năng sinh sản của giống lợn Táp Ná nuôi tại Công ty Cổ phần giống và thức ăn chăn nuôi Cao Bằng được trình bày chi tiết tại Bảng 3 và Hình 2.

Kết quả trình bày tại Bảng 3 cho thấy các chỉ tiêu về sinh sản của giống lợn Táp Ná nuôi tai Công ty Giống và Thức ăn Cao Bằng tương đương với các giống lợn nội tốt của Việt Nam (Nguyễn Văn Đức, 2002; Đặng Đình Trung và ctv, 2007; Nguyễn Thị Thủy Tiên và ctv, 2013). Tất nhiên, trong môi trường nuôi nhốt với chế độ dinh dưỡng đầy đủ và có sự chăm sóc chu đáo, quản lý chặt chẽ chế độ nuôi dưỡng nên một số chỉ tiêu đạt cao hơn so với các kết quả đã thống kê được trước đây về giống lợn Táp Ná nuôi tại Cao Bằng trong các nông hộ.

Tuổi động dục lần đầu của lợn cái giống Táp Ná là 113,2±2,47 ngày. Kết quả này tương đương với kết quả nghiên cứu của tác giả Lục Đức Xuân (1997) công bố tuổi động dục lần đầu của lợn Lang Hạ Lang, nơi có môi trường giống nhau là Cao Bằng đạt 116 ngày, nhưng sớm hơn so với giống lợn Ỉ là 120-135 ngày; lợn Móng Cái là 130-140 ngày (Nguyễn Thiện và ctv, 2005), lợn Mường Khương có tuổi động dục lần đầu là 6-8 tháng (Trần Văn Phùng và ctv, 2004).

Tuổi đẻ lứa đầu của giống lợn Táp Ná là 313,95±7,18 ngày, thấp hơn so với nghiên cứu trước đây của Nguyễn Văn Đức và ctv (2004) khi thực hiện điều tra tất cả các hộ có nuôi giống lợn Táp Ná theo các phương thức nuôi khác nhau tại huyện Thông Nông thu được kết quả là 13,6 tháng. Điều này chứng tỏ rằng tuổi đẻ lứa đầu của lợn Táp Ná ảnh hưởng bởi tập quán chăn nuôi, chế độ dinh dưỡng, điều kiện ngoại cảnh… Trong môi trường nuôi dưỡng tốt, đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng tuổi đẻ lứa đầu thấp hơn. So với tuổi đẻ lứa đầu của lợn Cỏ 300 ngày (Nguyễn Thiện và ctv, 2005), lợn Mường Khương 11 tháng tuổi (Lê Đình Cường và ctv, 2004) thì lợn Táp Ná có tuổi đẻ lứa đầu thấp hơn (Nguyễn Văn Đức, 2002; Đặng Đình Trung và ctv, 2007; Nguyễn Thị Thủy Tiên và ctv, 2013).

Thời gian mang thai của lợn Táp Ná là 114,8 ngày (Nguyễn Thị Thủy Tiên và ctv, 2013). Kết quả này phù hợp với các thông báo của tác giả trong Võ Sinh Huy (2000) cho biết giống lợn Móng Cái là 111,34 ngày, lợn Mẹo Sơn La 114,26 ngày (Trần Thanh Vân và Đinh Thu Hà, 2005), lợn Mường Khương 115 ngày (Nguyễn Thiện và ctv, 2005).

Số con đẻ ra/ổ của giống lợn Táp Ná đạt 6,85 con, biến động trong khoảng từ 5-8 con, với khối lượng sơ sinh bình quân 0,5 kg/con (Nguyễn Văn Đức, 2002; Đặng Đình Trung và ctv, 2007; Nguyễn Thị Thủy Tiên và ctv, 2013). So sánh với kết quả nghiên cứu về một số giống lợn nội: Lợn Cỏ sinh sản trung bình 6-7 con/ổ; lợn Mường Khương thành thục muộn, sinh sản kém, số con đẻ ra khoảng 6-7 con/ổ, lợn Bản – Sơn La có số con đẻ ra trung bình là 6,84 con/ổ (Phùng Thị Thu Hà, 2011) của Nguyễn Thiện và ctv (2005), nhưng thấp hơn so với giống lợn Ỉ có số con đẻ ra/ổ là 9,5 con và lợn Móng Cái, số con đẻ ra/ổ là 10 – 12 con, theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (1996), lợn Hạ Lang – Cao Bằng là 8,88 con/ổ (Lục Đức Xuân, 1997). Điều này nói lên rằng khả năng sinh sản của lợn phụ thuộc vào di truyền của giống.

Lợn con Táp Ná cai sữa ở 46,6 ngày đạt khối lượng trung bình 7,66 kg với tỷ lệ cai sữa đạt 94,64%. Các chỉ tiêu này phụ thuộc rất nhiều vào phẩm chất con giống, sự tác động của con người về thức ăn, dinh dưỡng và kỹ thuật chăm sóc.

Đối với tính trạng sinh sản về số con thì kém hơn lợn Móng Cái nhưng về khối lượng thì lớn hơn giống Móng Cái.

Nhìn chung, các tính trạng sinh sản cơ bản của giống lợn Táp Ná tương ứng với các giống Ỉ, Móng Cái¸ Mẹo, song các tính trạng về khối lượng thường thấp hơn lợn Mẹo (Nguyễn Văn Thiện và ctv, 1999; Nguyễn Văn Đức, 2012; Nguyễn Thị Thủy Tiên và ctv, 2013).

5.3. Chất lượng thân thịt của giống lợn Táp Ná

Kết quả thí nghiệm tại Công ty Giống và Thức ăn Cao Bằng cho thấy các chỉ tiêu đều cao hơn trong nông hộ.

Tỷ lệ móc hàm cao (79,06%) Tỷ lệ thịt xẻ khá cao (64,68%) so với lợn nội khác. Tỷ lệ nạc của giống Táp Ná không cao (32,90%). Tỷ lệ mỡ cao 46,82%. Tỷ lệ xương (9,6%) thấp hơn so với Móng Cái, Mường Khương. Tỷ lệ da tương tương các giống lợn nội khác của nước ta, đó là 9,99%.

Đối với chất lượng thịt, một số chỉ tiêu về thành phần hóa học trong thịt lợn Táp Ná cao hơn so với một số giống lợn nội khác song không đáng kể. Giá trị trung bình về VCK, Protein, Lipit, Khoáng tổng số lần lượt là 25,40%; 22,14%; 1,95%; 1,25%, điều đó chứng tỏ thịt lợn Táp Ná có giá trị dinh dưỡng cao, phẩm chất thịt thơm ngon, đó là đặc điểm quý của giống lợn nội Táp Ná và chính đặc điểm quý này, giống lợn Táp Ná đã trở thành nguồn ẩm thực đặc sản (Đặng Đình Trung và ctv, 2007; Nguyễn Văn Trung và ctv, 2009; Nguyễn Thị Thủy Tiên và ctv, 2013). Kết quả này tương đương với kết quả nghiên cứu trên giống lợn đen Lũng Pù nuôi tại Hà Giang (Nguyễn Văn Đức và ctv, 2008).

5.4. Thử nghiệm tổ hợp lợn lai giữa Táp Ná với Móng Cái

Để có thể khai thác hiệu quả nguồn gen giống lợn Táp Ná, một thử nghiệm lai giữa Móng Cái với Táp Ná được thực hiện. Nguồn gen giống lợn Táp Ná đã được thử nghiệm tạo tổ hợp lai với giống Móng Cái tại Công ty Giống và Thức ăn Cao Bằng. Thử nghiệm phối đực giống Móng Cái với nái Táp Ná và đực Táp Ná với nái Móng Cái cho thấy khi áp dụng kĩ thuật nuôi dưỡng tốt, các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng đàn lợn lai F1 đạt khá cao:

Đẻ sớm hơn: trung bình tuổi đẻ đầu của đàn nuôi thí nghiệm là 12 tháng.

Số con sơ sinh sống/ổ là 8,22 (biến động từ 7-9 con), cao nhất là 12 con /ổ.

Số con cai sữa là 7,25 con/ổ (biến động trong phạm vi 6-8 con/ổ).

Khối lượng sơ sinh là 0,5-0,7 kg/con.

Khối lượng khi đạt 60 ngày tuổi là 5-7kg/con ở ổ đẻ đầu.

Nhìn chung, các chỉ tiêu sinh sản và sản xuất của đàn lợn lai F1 giữa hai giống MC và TN thì đối với tính trạng số con vẫn thấp hơn so với giống lợn nội MC, song cao hơn giống lợn TN và được người chăn nuôi bước đầu chấp nhận vì đàn lợn khỏe và sinh trưởng phát triển tốt.

Kết quả nghiên cứu bước đầu về tốc độ sinh trưởng của tổ hợp lai F1(TNxMC) và F1(MCxTN) nuôi tại huyện Thông Nông và Công ty Giống và thức ăn chăn nuôi Cao Bằng, được trình bày tại bảng 6.

Tốc độ sinh trưởng của 2 tổ hợp lai F1(TNxMC) và F1(MCxTN) ở mức trung bình của lợn lai Nội x Nội của Việt Nam. Khối lượng sơ sinh mỗi lợn con là 0, 68 kg và khối lượng 8 tháng tuổi đạt 81,64±10,34 kg. Khối lượng sơ sinh của F1(TNxMC) và F1(MCxTN) cao hơn giống MC và khối lượng lúc đạt 8 tháng tuổi tương đương giống MC nuôi trong trang trại (Nguyễn Văn Đức, 1997).

Khả năng tăng khối lượng của F1(TNxMC) và F1(MCxTN) nuôi trong nông hộ là 411,68±56,58 g/ngày. Kết quả này cao hơn các giống lợn nội Móng Cái, Cỏ, Mẹo, Ỉ và tương đương với lợn Mường Khương.

Các nhóm lợn lai F1(TNxMC) và F1(MCxTN) đang được thử nghiệm vỗ béo tại Công ty Giống và thức ăn chăn nuôi Cao Bằng để khảo sát khả năng TKL và chất lượng thân thịt. Kết quả nghiên cứu bước đầu về khả năng sinh trưởng của 2 tổ hợp lai F1(TNxMC) và F1(MCxTN) nuôi tại Công ty Giống và thức ăn chăn nuôi Cao Bằng.

Hình 2. Lợn F1(TNxMC) và TN nuôi nông hộ Lợn lai F1(TNxMC) nuôi tại Công ty

Phẩm chất thịt xẻ và chất lượng thịt của tổ hợp lai giữa 2 giống lợn nội Táp Ná và Móng Cái qua khảo sát thịt cho thấy chất lượng thân thịt tốt hơn so với bố mẹ chúng. Cụ thể: tỷ lệ móc hàm là 79,12%; tỷ lệ thịt xẻ 65,11%; tỷ lệ nạc là 38,05% và chất lượng thịt thơm ngon. Với kết quả này có thể giải thích rằng giữa Táp Ná và Móng Cái là 2 giống lợn khác nhau vì thể hiện ưu thế lai khá rõ rệt.

Tại thí nghiệm vỗ béo lợn lai Táp Ná x Móng Cái ở Công ty Giống cho thấy: khối lượng lợn bắt đầu vào vỗ béo là 15,06±0,19kg và 7 tháng tuổi đạt 74,67±10,06kg. Như vậy, khả năng tăng khối lượng của lợn lai F1(TNxMC) và F1(MCxTN) nuôi trong Công ty đạt mức cao của lợn lai nội x nội, đó là 496,75±50,22 g/ngày. Kết quả này cao hơn các giống lợn nội Móng Cái, Cỏ, Mẹo, Ỉ và tương đương với lợn Mường Khương. Rõ ràng, sử dụng 2 tổ hợp lai F1(TNxMC) và F1(MCxTN) để khai thác thịt trong vùng sinh thái miền núi Đông Bắc Bộ là có triển vọng tốt.

6. CÔNG TÁC BẢO TỒN LƯU GIỮ NGUỒN GEN

6.1. Tuyển chọn nhân thuần nguồn gen giống lợn Táp Ná

Để đảm bảo công tác bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen giống lợn Táp Ná, nhân thuần giống là giải pháp quan trọng nhất. Muốn nhân thuần, tuyển chọn nguồn nguyên liệu đảm bảo độ thuần chủng là điều tiên quyết: chọn giới tính đực và cái phù hợp để xây dựng ghép phối nhằm tăng nhanh số lượng với chất lượng tốt mà tránh được sự đồng huyết.

Công việc tuyển chọn nhân thuần cụ thể cho giống lợn Táp Ná này cần tiến hành theo 3 bước cơ bản sau đây:

Bước 1: Tuyển chọn đàn lợn đực và cái giống Táp Ná chất lượng tốt, mang đặc trưng của giống để xây dựng đàn giống hạt nhân. Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng giống nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen giống lợn Táp Ná. Cách tuyển chọn cho mỗi giới tính như sau:

– Đối với lợn đực giống: cần tuyển chọn được 5-6 đực giống tại cơ sở giống hoặc nơi nguồn gốc sinh ra chúng. Những đực giống này phải được chọn khắt khe sao cho chúng mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản của giống và tiêu chí của đực giống.

– Đối với lợn cái giống: Cần tuyển chọn được khoảng 30 cái giống, trong đó có thể 10-15 nái giống và 20 cái hậu bị tại cơ sở giống hoặc nơi nguồn gốc sinh ra chúng. Những lợn cái giống này cần mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản của giống và tiêu chuẩn làm nái giống.

Bước 2: Chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn Táp Ná được tuyển chọn làm giống này với khả năng tốt nhất để tạo ra đàn lợn giống với chất lượng cao phục vụ cho chương trình bảo tồn, khai thác và phát triền nguồn gen giống lợn Táp Ná.

Bước 3: Xây dựng chương trình ghép phối giống thích hợp để tăng nhanh đàn lợn và tránh được sự gia tăng cận huyết. Cụ thể:

a. Phân nhóm giống:

– Đối với đàn đực giống: Đánh số thứ tự từ 1 đến 5 và đực còn lại được sử dụng làm đực dự phòng.

– Đối với đàn cái giống: Phân chia đàn lợn được tuyển chọn vào đàn hạt nhân thành 5 nhóm (nhóm 1, 2, …5): mỗi nhóm gồm 6-7 con lợn cái giống đồng đều về tuổi và ngoại hình.

b. Ghép phối giống: Nguyên tắc ghép phối giống được thực hiện bằng cách thay đổi đực giống qua từng thế hệ để tránh sự gia tăng đồng huyết trong đàn giống hạt nhân để cung cấp con giống tốt cho cộng đồng. Cụ thể:

– Lợn cái được tuyển chọn gọi là thế hệ xuất phát: Sử dụng lợn đực giống số 1 phối giống cho nhóm nái số 1, đực số 2 với nhóm nái số 2, … và đực số 5 phối với nhóm nái số 5.

– Lợn cái con của thế hệ thứ nhất: Thay đổi đực cho các nhóm sao cho đực giống đã phối giống cho mẹ không được phối giống tiếp cho con gái của chúng. Cụ thể: đực giống số 1 phối với con gái của nhóm nái số 2, đực giống số 2 phối với nhóm con gái của nhóm nái số 3, … và đực giống số 5 phối với con gái của nhóm nái số 1.

– Thực hiện nghiêm túc việc ghép phối theo quy tắc này thì sau 5 thế hệ mới có sự trùng lặp lại nguồn gen của mỗi đực giống cho dòng họ của nó. Phân tích theo hệ huyết thống, sau 5 thế hệ thì hệ số cận huyết đã giảm xuống rất nhỏ, không gây ảnh hưởng đến sức sống và năng suất của vật nuôi.

6.2. Chăm sóc nuôi dưỡng

Chăm sóc nuôi dưỡng cần tuân thủ theo quy trình chăn nuôi của của giống lợn Táp Ná. Có thể áp dụng Quy trình chăn nuôi giống lợn Táp Ná do nhóm tác giả Nguyễn Văn Đức và ctv (2004) hoặc sử dụng Quy trình chăn nuôi giống Móng Cái cho giống lợn Táp Ná.

6.3. Môi trường nuôi giữ

Nên nuôi giữ trên nhiều địa điểm và hình thức khác nhau tùy theo điều kiện để bảo tồn bền vững và khai thác phát triển có hiệu quả. Tối thiểu cũng phải:

– Nuôi giữ nơi gốc của giống sinh ra: Huyện Thông Nông hoặc cơ sở giống của tỉnh Cao Bằng.

– Nuôi để khai thác và phát triển có hiệu quả nơi có điều kiện tương tự nhưng tốt hơn nơi gốc và xây dựng thành vùng giống: Các cơ sở của các nông trại/trang trại tỉnh Cao bằng.

– Xây dựng đàn giống hạt nhân: nuôi nơi có điều kiện tương đối tốt để thực hiện chọn lọc nhân giống trong đàn hạt nhân nhằm cung cấp con giống nhanh cho cộng đồng với chất lượng tốt: Trung tâm giống của tỉnh hoặc trại giống của Công ty giống và thức ăn Cao Bằng. Mục tiêu là tạo chọn đàn hạt nhân có chất lượng tốt để từ đó nhân thuần nhằm tăng nhanh số lượng và chất lượng đàn giống để cung cấp cho các cơ sở chăn nuôi và cộng đồng nói chung nhằm phục vụ công tác khai thác và phát triển hiệu quả nguồn gen giống lợn Táp Ná.

6.4. Hướng sử dụng

Nuôi để bảo tồn nguồn gen giống lợn Táp Ná và tạo điều kiện chọn lọc, nhân thuần nhằm tăng số lượng và nâng cao các tính trạng kinh tế để khai thác và phát triển nguồn gen quý hiếm này theo mục tiêu khai thác nguồn thực phẩm đặc sản và góp phần tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo ở vùng núi hẻo lánh, nơi mà điều kiện kinh tế-xã hội còn hạn chế.

TS. Nguyễn Văn Đức

Viện Chăn nuôi

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ