Sự phân bổ các genen độc lực của các chủng vi khuẩn Enterotoxigenic Escherichia coli phân lập từ heo con bệnh tiêu chảy

Chín mươi chủng ETEC (49 chủng từ heo con theo mẹ và 41 chủng từ heo con sau cai sữa), từ phân heo con tiêu chảy tại một số tỉnh thành thuộc Đồng bằng sông Cửu Long được thu thập để xác định gene mang độc lực gây bệnh bằng kỹ thuật PCR. Sự lưu hành các chủng mang kháng nguyên bám dính ở ĐBSCL như sau: F4 (15,56%), F5 (8,89%), F6 (5,56%), F18 (17,78%) và F41 (0%); trong đó ở nhóm heo con theo mẹ F4 (16,33%) và F18 (12,2%) được tìm thấy nhiều nhất, kế đến là F5 (6,12%) và F6 (8,16%); ở nhóm heo sau cai sữa, chủng mang gene F18 là cao nhất (22,45%), tiếp theo là F4, F5, F6 với tỷ lệ lần lượt là 14,63%; 12,2%; 2,44%. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng phát hiện gene mã hóa độc tố STb (33,33%) và EAST1 (27,78%) chiếm tỷ lệ cao nhất, kế đến là STa (15,56%) và LT (12,22%); trong đó, ở heo con theo mẹ tỷ lệ các chủng mang gene mã hóa độc tố STb (38,78%) và EAST1(30,61%) cao nhất, STa và LT tương ứng là 14,29% và 10,2%; tỷ lệ này ở nhóm heo sau cai sữa tương đương nhau, STa (17,07%), STb (26,83%), LT (14,63%), EAST1 (24,39%). F18 và EAST1 đóng vai trò gây bệnh rất quan trọng, nhưng lại khiếm khuyết trong các loại vaccine phòng bệnh E. coli đã và đang sử dụng ở các tỉnh này.

1 GIỚI THIỆU

Enterotoxigeneic Escherichia coli (ETEC) là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ và sau cai sữa, gây thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế các nước trên thế giới (Nagy and Fekete, 1999). Phần lớn các chủng vi khuẩn E. coli thuộc nhóm ETEC được phân lập từ heo tiêu chảy có khả năng sản sinh một hoặc nhiều yếu tố bám dính bám vào thụ thể trên bề mặt biểu mô ruột như F4 (K88), F5 (K99), F6 (987P), F17, F18 và F41; và một hay nhiều độc tố ruột (enterotoxin), bao gồm độc tố chịu nhiệt (STa, STb, EAST1) và độc tố không chịu nhiệt (LT) (Gyles and Faibrother, 2010). Kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy các chủng vi khuẩn ETEC gây bệnh tiêu chảy ở heo con thường xuyên mang yếu tố bám dính F4 và F18 và sản sinh hai loại độc tố phổ biến là STb và EAST1 ở nhiều nước như Cộng hòa Slovak (Hung et al., 2007); Mỹ (Zhang et al., 2007); Bra-xin (Costa et al., 2010) và Cu Ba (Blanco et al., 2006). Tương tự, các nghiên cứu ở miền Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Việt Nam cũng thường xuyên phát hiện được yếu tố bám dính F4, F18 và độc tố STb (Nguyen Thi Lan et al., 2007; Do T.N. et al., 2006; Võ Thành Thìn, 2012). Riêng ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có một số tác giả đã tiến hành khảo sát các chủng gây bệnh tiêu chảy của E. coli (Nguyễn Khả Ngự và Lê Văn Tạo, 1996; Lý Thị Liên Khai và ctv., 2003; Bùi Trung Trực và ctv., 2004); tuy nhiên, phần lớn những nghiên cứu này chỉ dừng ở việc thực hiện phản ứng huyết thanh học để phát hiện kháng nguyên O và kháng nguyên F, hoặc giới hạn ở một số loại độc tố. Thật vậy, ở ĐBSCL có rất ít những thông tin về bệnh học, serogroups, serotypes và độc lực của ETEC gây bệnh trên heo. Hơn nữa, phần lớn các trại chăn nuôi tập trung và chăn nuôi gia đình ở một số tỉnh ở ĐBSCL đã tăng cường các biện pháp vệ sinh phòng bệnh và tiêm phòng vaccine, nhưng bệnh vẫn xảy ra với tỷ lệ rất cao. Vì vậy, việc kiểm tra thành phần chủng ETEC gây bệnh tiêu chảy trên heo con để phát hiện đầy đủ các yếu tố bám dính và các độc tố ruột là rất cần thiết nhằm khống chế bệnh (Fairbother et al., 1992).

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu:

Từ 10/2012 đến 7/2013, 90 chủng vi khuẩn E. coli (49 chủng được phân lập từ phân heo con theo mẹ và 41 chủng được phân lập từ phân heo sau cai sữa) thu thập từ 4 tỉnh/ thành thuộc ĐBSCL (tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ) đã được định danh bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính, lưu trữ trong tủ đông – 80o C ở bộ môn Thú y, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ và tiến hành phân tích PCR tại bộ môn Thú Y, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ; bộ môn Thú y, Khoa Nông nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp và Kỹ thuật Tokyo, Nhật Bản, và Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử của Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Cần Thơ.

Nguyên liệu dùng cho phản ứng PCR: primer (mồi xuôi, mồi ngược của F4, F5, F6, F18, F41, STa, STb, LT và EAST1) (Integrated DNA Technologies, USA); bộ kit PCR, Go Taq® Green Master Mix, 2X (Promega, USA); thang DNA 100 bp (Gel loading buffer – Invitrogen) (Promega, USA).

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Ly trích DNA

DNA của các chủng vi khuẩn nhóm ETEC được ly trích bằng phương pháp đun sôi (Boiling methodology). Cho khuẩn lạc vi khuẩn E. coli vào ống typ 1,5 ml có chứa 200 µl nước (không có enzyme Dnase, Rnase), đun cách thủy ở 100o C trong 5 phút, ngay lập tức ngâm vào nước đá trong 5 phút. Ly tâm 13.000 vòng trong 2 phút. Phần nước nổi bên trên có chứa DNA của tế bào vi khuẩn được hút ra cho vào 1 ống typ khác và bảo quản ở -20o C (Costa et al., 2010).

2.2.2 Xác định gene độc lực của vi khuẩn ETEC

Phương pháp xác định gene độc lực của vi khuẩn bằng phản ứng PCR, phát hiện gene qui định kháng nguyên bám dính (F4, F5, F6, F18 và F41) và độc tố đường ruột (LT, STa, STb, EAST1) với các cặp mồi đặc hiệu được mô tả trong Bảng 1.

Thành phần các chất trong phản ứng PCR gồm: 25 µl Gotaq green Master Mix 2X (Promega, USA); 1 µl mồi xuôi (10 µM); 1 µl mồi ngược (10 µM); 18 µl nước (không Dnase, Rnase) và 5 µl DNA mẫu.

Kết quả xác định gene mã hóa các yếu tố bám dính gây bệnh được thực hiện trên 90 chủng ETEC phân lập từ heo con tiêu chảy cho thấy tỷ lệ các chủng gây tiêu chảy ở heo con có mang gene qui định kháng nguyên bám dính F4 (15,56%), F5 (8,89%) và F18 (17,78%), tỷ lệ này khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05), chứng tỏ ba loại kháng nguyên bám dính F4, F5 và F18 phổ biến ở các địa phương này, riêng F6 chiếm tỷ lệ thấp nhất (5,56%) và không có chủng nào mang gene mã hóa F41. Các chủng ETEC mang kháng nguyên F4, F5, F6 và F18 khu trú và hoạt động trong đường ruột của heo ở 4 tỉnh thuộc ĐBSCL có thể là nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy cho heo khi sức đề kháng của heo con giảm sút. Kết quả nghiên cứu này giống với kết quả nghiên cứu của Võ Thành Thìn (2012) ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và Nguyen Thi Lan et al. (2009) ở một số tỉnh miền Bắc và những nghiên cứu này có điểm chung là gene qui định F4 và F18 luôn chiếm tỷ lệ cao. Tuy nhiên, tỷ lệ gene mã hóa yếu tố bám dính F6 luôn cao hơn F5, đối lập với kết quả của nghiên cứu này (F5 được tìm thấy phổ biến hơn F6). Cũng giống với nghiên cứu của Costa et al. (2010) ở Tiểu bang Santa Catarina (Bra-xin), F4 (18,75%) và F18 (26,56%) luôn là những yếu tố bám dính phổ biến gây bệnh trên heo con, tuy nhiên trong nghiên cứu của họ phát hiện F41 chiếm tỷ lệ khá cao (10,94%); và không tìm thấy F6. Các nghiên cứu trên cho thấy các chủng vi khuẩn E. coli phân lập từ phân heo con tiêu chảy mang kháng nguyên bám dính khác nhau theo từng thời điểm, địa điểm nghiên cứu cũng như đặc điểm dịch tễ của bệnh, vì vậy kết quả phân tích các loại kháng nguyên bám dính sẽ có sự sai khác.

Qua khảo sát thực tế, phát hiện một số trang trại và nông hộ ở tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ có tiêm phòng vaccine E. coli cho heo mẹ trong thời gian mang thai, với các loại vaccine như sau: vaccine Colisuin C.L. do công ty Hipra sản xuất, vaccine có chứa các loại độc lực F4 (ab và ac), F5, F6, LT; vaccine Litterguard LT-C của công ty Pfizer có chứa F4, F5, F6, F41 và vaccine Neocolipor do công ty Merial sản xuất có mang F4, F5, F6, F41, nhưng bệnh này vẫn chiếm tỷ lệ cao. Riêng tỉnh Sóc Trăng không có tiêm phòng E. coli ở thời điểm lấy mẫu thực hiện đề tài, trước đó khoảng 1 năm phần lớn người chăn nuôi đã ngưng tiêm phòng 1 trong 3 loại vaccin E.coli trên, vì bệnh vẫn xảy ra sau khi đã tiêm phòng. Thật vậy, các loại vaccine mà người chăn nuôi đã sử dụng chủ yếu mang 4 loại F4, F5, F6 và F41, nhưng thực tế các chủng ETEC gây bệnh trong nghiên cứu này ngoài các kháng nguyên F4, F5 và F6 không có mang F41, tuy nhiên F18 hiện diện với tỷ lệ khá cao ở phân heo con tiêu chảy. Kết quả này đã góp phần chứng minh tại sao người chăn nuôi đã tiêm phòng vaccine phòng bệnh E. coli nhưng vẫn không bảo vệ được đàn heo của họ.

Có 20/49 chủng E. coli phân lập từ heo con theo mẹ tiêu chảy mang ít nhất 1 loại kháng nguyên bám dính (40,82%), trong đó chủng mang F4 (16,33%) và F18 (12,2%) được tìm thấy cao hơn F5 (6,12%) và F6 (8,16%), nhưng khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Kết quả phản ánh các loại kháng nguyên F4, F5, F6 và F18 đều là những kháng nguyên tham gia gây bệnh tiêu chảy ở heo con ở bốn tỉnh ĐBSCL.

Từ 41 chủng E. coli phân lập ở heo sau cai sữa bị tiêu chảy thì tỷ lệ mang gene bám dính F18 cao nhất (22,45%), tiếp theo là F4 (14,63%), F5 (12,20%), F6 (2,44%) với p<0,05. Điều này giống với nghiên cứu của Frydendahl (2002), Vũ Khắc Hùng và ctv (2005)a và Võ Thành Thìn (2012), các tác giả này cho rằng F18 là kháng nguyên bám dính chính của các chủng E. coli phân lập từ heo sau cai sữa mắc bệnh tiêu chảy. Tỷ lệ các chủng E. coli mang F18 phân lập từ heo sau cai sữa (22,45%) cao hơn ở heo theo mẹ (12,20%) rất có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết quả này là do các thụ thể của F18 ít có mặt ở heo mới sinh và sẽ tăng dần đến cai sữa, chúng cũng tiếp tục tồn tại ở heo trưởng thành, vì vậy F18 là kháng nguyên bám dính chính của các chủng phân lập được từ những heo con sau cai sữa bị bệnh tiêu chảy (Gyles and Fairbrother, 2010). Kháng nguyên bám dính F4 không khác nhau giữa heo theo mẹ (16,33%) và heo sau cai sữa (14,63%), vì. F4 gắn vào thụ thể ở tế bào biểu mô ruột non của heo ở mọi lứa tuổi (heo theo mẹ, heo sau cai sữa và cả heo thịt) (Gyles and Fairbrother, 2010). Các thụ thể để F4 bám vào có nhiều ở heo con theo mẹ và chúng sẽ giảm dần theo tuổi, nhưng vẫn còn ổn định trong suốt thời gian cai sữa và sau cai sữa (Nagy and Fekete, 1999). Khác với sự hiện diện của kháng nguyên bám dính F18, các chủng ETEC có mang F5 và F6 chiếm tỷ lệ thấp, tương đương nhau ở 2 nhóm tuổi (p>0,05). Giống như nhận định của Gyles and Fairbrother (2010), cho rằng phần lớn các thụ thể của kháng nguyên F5 và F6 kết dính dịch nhày ở phần sau của ruột non của heo theo mẹ. Bên cạnh đó, những nghiên cứu gần đây cho biết hai loại kháng nguyên bám dính này thường chiếm tỷ lệ thấp, nhưng chúng cũng đóng vai trò nhất định trong gây rối loạn tiêu hóa ở heo con.

3.2 Kết quả xác định một số độc tố ruột của các chủng ETEC

Trong 90 chủng ETEC được phân lập từ heo con tiêu chảy có 30 chủng mang gene mã hóa độc tố STb, chiếm tỷ lệ cao nhất (33,33%), tiếp theo là EAST1 (27,78%), STa (15,56%) và LT (12,22%). Trong đó, STb và EAST1 tương đương nhau (p>0,05), nhưng giữa STb và EAST1 khác nhau rất có ý nghĩa thống kê với STa và LT (p<0,01). Kết quả STb chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu này giống với phần lớn các nghiên cứu ở Việt Nam, như Cù Phú Hữu và ctv (2003), Nguyễn Ngọc Tuân và ctv (2005), Do et al. (2006), Phạm Thế Sơn (2008) và Võ Thành Thìn (2012); kể cả những nghiên cứu ở nước ngoài, như Blanco et al. (2006) và Zhang et al. (2007). Tóm lại, kết quả nghiên cứu này và các nghiên cứu khác đều có điểm chung là khả năng sinh độc tố STb của các chủng vi khuẩn ETEC luôn chiếm tỷ lệ cao nhất, chứng tỏ sự phổ biến của độc tố STb trong bệnh tiêu chảy do E. coli ở heo con.

Sự phân bố từng loại độc tố ruột của chủng ETEC giữa các tỉnh không có khác biệt thống kê. Riêng độc tố STa hiện diện ở các chủng ETEC phân lập từ phân heo con tiêu chảy ở 2 tỉnh Sóc Trăng, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ tương đương nhau nhưng rất khác biệt thống kê so với tỉnh Bến Tre (0%). Kết quả này đã chứng minh tiêm vaccine phòng bệnh E. coli ở một số trang trại và nông hộ ở tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long và Thành phố Cần Thơ không có hiệu quả. Trên thực tế các trang trại và nông hộ này sử dụng một trong ba loại vaccine trên, trong đó chỉ có 1 loại vaccine mang độc tố LT, nhưng tỷ lệ các chủng ETEC mang độc tố LT ở nghiên cứu này thấp nhất (12,22%). Như vậy, kết quả nghiên cứu đã chứng minh những loại vaccine trên chưa đáp ứng với thực tế nhiễm các loại độc tố ruột của các chủng ETEC ở 4 tỉnh ĐBSCL, đó cũng là lý do tại sao thời gian gần đây người chăn nuôi không tiêm vaccine phòng bệnh E. coli.

Trong 49 chủng ETEC phân lập từ heo con theo mẹ có 24 chủng có khả năng sinh ít nhất một loại độc tố (48,98%), trong đó chủng mang gene mã hóa độc tố STb (38,78%) và EAST1 (30,61%) chiếm tỷ lệ cao nhất, giữa chúng không khác biệt thống kê (p>0,05), tuy nhiên chúng khác nhau rất có ý nghĩa thống kê so với STa (14,29%) và LT (10,2%). Bên cạnh đó, kết quả xác định gene ở 41 chủng ETEC phân lập từ heo sau cai sữa thì STb (26,83%) và EAST1 (24,39%) chiếm tỷ lệ cao hơn STa (17,07%) và LT (14,63%), nhưng sự khác nhau giữa 4 loại độc tố này không có ý nghĩa thống kê (với p>0,05). Kết quả này chứng minh 4 loại độc tố trên đều có khả năng gây bệnh trên heo sau cai sữa. Như vậy, ở cả hai nhóm tuổi cho thấy vai trò của STb và EAST1 rất quan trọng trong việc gây tiêu chảy.

Tỉ lệ các chủng ETEC mang gene mã hóa từng loại độc tố STa, STb, LT và EAST1 trong nghiên cứu này không có sự sai khác giữa 2 nhóm heo con tiêu chảy. Theo một số tác giả như Harel et al. (1991), Ojeniyi et al. (1996), các chủng ETEC sản sinh độc tố STa, STb và LT thường đóng vai trò quan trọng trong bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ, đặc biệt ở giai đoạn từ sơ sinh đến 7 ngày tuổi. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy các chủng vi khuẩn E. coli phân lập từ heo con sau cai sữa có khả năng sản sinh độc tố đường ruột với tỷ lệ rất cao. Kết quả nghiên cứu của một số tác giả trong nước cho thấy trên 50% số chủng vi khuẩn E. coli phân lập từ nhóm heo này có mang gene mã hóa độc tố đường ruột như STa, STb và LT (Nguyễn Cảnh Dũng và Cù Hữu Phú, 2011; Phạm Thế Sơn và ctv., 2008; Do et al., 2006). Tỷ lệ chủng ETEC có nguồn gốc từ heo sau cai sữa tiêu chảy ở Cuba và Mỹ sản sinh những độc tố này cũng rất cao, như STa (57,7- 61%), STb (27,4 – 72,6%) và LT (17,4 – 53%) (Blanco et al., 2006; Zhang et al., 2007). Như vậy, vai trò gây bệnh của các loại độc tố ruột ở từng nhóm tuổi đều rất quan trọng.

Hiện nay, vai trò của EAST1 trong việc gây bệnh tiêu chảy ở heo con chưa được xác định rõ (Gyles and Fairbrother, 2010). Nếu E. coli chỉ sản xuất có 1 loại độc tố là EAST1 thì không đủ để gây tiêu chảy (Ngeleka et al., 2003). Tuy nhiên, nếu EAST1 kết hợp với LT thì dễ dàng gây tiêu chảy hơn so với chỉ có LT (Berberrov et al., 2004). Một số nghiên cứu từ các tác giả khác như Choi et al. (2001); Frydendahl (2002); Osek (2003); Hung et al. (2006) cho rằng độc tố EAST1 thường được tìm thấy ở các chủng ETEC phân lập từ heo con sau cai sữa mắc bệnh tiêu chảy. Qua nghiên cứu, Vũ Khắc Hùng và ctv. (2005)b thấy rằng độc tố EAST1 có tương quan thuận với yếu tố bám dính F4 và độc tố STb, từ đó tác giả nhận định độc tố EAST1 có thể là tác nhân gây tiêu chảy ở heo con. Trong kết quả nghiên cứu này, các chủng ETEC phân lập từ heo con tiêu chảy trước và sau cai sữa đều có mang gene mã hóa độc tố EAST1 với tỷ lệ khá cao (30,61% và 24,39%) và hầu hết đều có kết hợp với các chủng mang kháng nguyên F4 và F18. Ngoài ra, mối quan hệ của EAST1 và STb cũng được thấy rất rõ, phần lớn các chủng ETEC sản sinh độc tố STb (dạng đơn lẻ hay kết hợp với 1 hoặc nhiều loại độc tố khác) đều có sản sinh EAST1. Qua các mối quan hệ của F4, F18, STb và EAST1 đã cho thấy vai trò của độc tố EAST1 trong bệnh tiêu chảy ở heo con trước và sau cai sữa.

3.3 Tổ hợp các yếu tố gây bệnh của các chủng ETEC phân lập từ phân heo con tiêu chảy

Để gây bệnh tiêu chảy, các chủng ETEC cần có yếu tố bám dính và khả năng tiết độc tố, các độc tố này làm rối loạn sự cân bằng nước và chất điện giải trong cơ thể vật chủ. Các yếu tố bám dính và độc tố đường ruột này thường kết hợp với nhau thành những tổ hợp đặc trưng để gây bệnh. Những tổ hợp này được thể hiện ở Bảng 6.

Qua khảo sát 90 chủng ETEC gây bệnh tiêu chảy trên heo con phát hiện 44 chủng mang các tổ hợp gene khác nhau, trong đó có 2 chủng có mang F4 nhưng không sản xuất độc tố và 1 chủng ETEC không có kháng nguyên bám dính nhưng sản xuất 2 loại độc tố (STb/EAST1). Trong các tổ hợp gene giữa yếu tố bám dính và độc tố ruột có 7/44 chủng mang tổ hợp F18/STa/STb/EAST1, chiếm tỷ lệ cao nhất (15,91%). Các tổ hợp còn lại phối hợp khá đồng đều giữa các loại độc tố ruột và kháng nguyên bám dính. Điều này cho thấy, các chủng khác nhau thì khả năng sinh ra các loại độc tố với tỷ lệ khác nhau. Tổ hợp gene phổ biến trong nghiên cứu này không giống một số nghiên cứu gần đây ở trong nước cũng như ngoài nước. Theo Võ Thành Thìn (2012), trong các tổ hợp gene kháng nguyên bám dính phổ biến là F4/STb/LT. Nghiên cứu của Nguyen Thi Lan et al. (2009) khi xác định một số yếu tố độc lực của vi khuẩn Escherichia coli phân lập từ heo con tiêu chảy ở các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Giang và Hà Tây cho thấy kiểu kết hợp F4/ LT/STb, F4/STb, F6/STa chiếm ưu thế nhất. Kết quả nghiên cứu của Choi et al., (2001) tại Hàn Quốc cho thấy tỉ lệ các tổ hợp gene của vi khuẩn E. coli ở heo con tiêu chảy là F5/STa (22,5%), F6/STa (7,5%), F4/STa/STb/LT (5%), F4/STb/LT (2,5%), F6/STa/STb (2,5%). Như vậy, các chủng ETEC gây bệnh mang các loại độc lực khác nhau ở từng vùng và từng thời điểm nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu này cho thấy phần lớn các chủng E. coli F4, F5, F6 và F18 đều có mang ít nhất một độc tố ruột (STa hoặc STb), trong đó có một số chủng F4, F5 và F18 mang cả bốn loại độc tố ruột (STa, STb, LT và EAST1), điều này chứng tỏ các chủng ETEC có mang gene độc lực đóng một vai trò quan trọng trong hội chứng tiêu chảy ở heo con theo mẹ và sau cai sữa.

4 KẾT LUẬN

Các chủng ETEC gây tiêu chảy heo con ở 4 tỉnh ĐBSCL phổ biến nhất là F4 và F18 kế đến là F5 và F6. Độc tố ruột STb và EAST1 là 2 loại độc tố chính gây bệnh tiêu chảy heo con tại các tỉnh này, tiếp theo là LT, STa. Các chủng có mang kháng nguyên bám dính F18 kết hợp với độc tố ruột STa, STb và EAST1 chiếm ưu thế ở các tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, Vĩnh Long và Thành phố Cần Thơ.

Nguyễn Thị Hạnh Chi1 , Lý Thị Liên Khai2 và Hà Thanh Toàn3

1 Khoa Nông nghiệp & Tài nguyên Thiên nhiên, Trường Đại học An Giang

2 Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ

3 Viện Nghiên cứu & Phát triển Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Cần Thơ

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ