TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 5/2021

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, trong tháng 5/2021 ngành chăn nuôi phát triển ổn định, đàn lợn tiếp tục đà hồi phục, dịch tả lợn châu Phi đã được kiểm soát, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng khá, nguồn cung dần ổn định khiến giá thịt lợn hơi có xu hướng giảm và đang được kiểm soát. Ước tính tổng số lợn tăng khoảng 11,8%; tổng số gia cầm của cả nước tăng khoảng 6,4% so với cùng thời điểm năm 2020.

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 5 năm 2021 ước đạt 41 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu chăn nuôi 5 tháng đầu năm 2021 ước đạt 166 triệu USD, tăng 43,9% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa ước đạt 42 triệu USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2020.

Ước giá trị nhập khẩu chăn nuôi tháng 5 năm 2021 đạt 340 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu chăn nuôi 5 tháng đầu năm 2021 đạt 1,52 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, giá trị nhập khẩu sữa và các sản phẩm sữa ước đạt 515,7 triệu USD, tăng 10,4%.

Trong tháng 5, tình hình chăn nuôi cụ thể như sau:

Chăn nuôi trâu, bò

Chăn nuôi trâu, bò: Hiện nay, dịch viêm da nổi cục đang diễn biến phức tạp tại 29 tỉnh, thành phố với tổng số gia súc mắc bệnh là trên 44.700 con. Theo ước tính của Tổng cục Thống kê (TCTK), tổng số trâu cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Năm năm 2021 giảm 2,8%; tổng số bò tăng 2,0% so với cùng thời điểm năm 2020.

Chăn nuôi lợn

Dịch tả lợn châu Phi tiếp tục được kiểm soát tốt, chỉ còn phát sinh những ổ dịch nhỏ lẻ. Theo ước tính của TCTK, tổng số lợn của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Năm năm 2021 tăng 11,8% so với cùng thời điểm năm 2020.

Chăn nuôi gia cầm

Trong tháng, đàn gia cầm cả nước phát triển ổn định, tuy nhiên giá thức ăn chăn nuôi tăng cao trong bối cảnh giá lợn hơi và giá gia cầm đều giảm sẽ gây khó khăn cho người chăn nuôi nhỏ lẻ. Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng số gia cầm của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Năm năm 2021 tăng 6,4% so với cùng thời điểm năm 2020.

Tình hình dịch bệnh

Theo báo cáo của Cục Thú y, tính đến ngày 21/5/2021 tình hình dịch bệnh cụ thể như sau:

– Dịch Cúm gia cầm (CGC): Trong tháng 05, không phát sinh ca bệnh CGC. Hiện nay, cả nước không có dịch bệnh CGC;

– Dịch Lở mồm long móng (LMLM):

Trong tháng 05, phát sinh 01 ổ dịch tai xã Sa Loong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Tổng số gia súc mắc bệnh là 17 con.

Hiện nay, cả nước có 11 ổ dịch LMLM tại 11 huyện thuộc 07 tỉnh chưa qua 21 ngày. Tổng số gia súc mắc bệnh là 429 con, số gia súc tiêu hủy là 25 con.

– Dịch Tai xanh: Trong tháng 5, cả nước không phát sinh ổ dịch Tai xanh tại các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.

– Dịch Tả lợn châu Phi: Trong tháng 05, phát sinh 95 ổ dịch tại 45 huyện, tai 17 tỉnh, thành phố tổng số gia súc mắc bệnh là 12.000 con.

Hiện nay, cả nước có 443 ổ dịch tại 114 huyện của 29 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày. Tổng số lợn tiêu hủy là 29.005 con.

– Dịch Viêm da nổi cục: Trong tháng 05, phát sinh 36 ổ dịch tại 12 huyện thuộc 02 tỉnh: Quảng Trị và Thanh Hóa.

Hiện nay, cả nước có 1.334 ổ dịch tại 199 huyện của 28 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày. Tổng số gia súc mắc bệnh là 43.149 con, số gia súc đã tiêu hủy là 6.283 con.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

Trong tháng 5 giá lợn hơi biến động giảm tại các khu vực do nguồn cung trong nước được đảm bảo, việc tái đàn ở các địa phương diễn ra thuận lợi trong khi nhu cầu vẫn ở mức thấp.

Giá lợn nạc giao tháng 6/2021 thị trường Chicago, Mỹ biến động tăng trong tháng qua với mức tăng 1,575 UScent/lb lên mức 114,225 UScent/lb. Giá thịt lợn tăng do nhu cầu cao trong các siêu thị và nhà hàng trong bối cảnh người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn cho thực phẩm. Việc tiêm chủng COVID-19 và nới lỏng các hạn chế đối với các doanh nghiệp cũng đang khiến nhiều người đi ăn ở ngoài hơn. Bên cạnh đó, trọng lượng lợn hơi trung bình giảm đang làm cho nguồn cung thịt lợn của Hoa Kỳ thắt chặt hơn.

Tại thị trường trong nước, trong tháng 5/2021, giá lợn hơi biến động giảm tại nhiều khu vực do nguồn cung trong nước được đảm bảo, việc tái đàn ở các địa phương diễn ra thuận lợi trong khi nhu cầu vẫn ở mức thấp. Giá lợn hơi tại miền Bắc giảm 4.000 – 7.000 đồng/kg. Cụ thể, Phú Thọ, Hà Nội và Tuyên Quang cùng giảm giá, xuống mức 66.000 – 68.000 đồng/kg; Ninh Bình giảm xuống mức 68.000 đồng/kg. Tương tự, các tỉnh Yên Bái, Nam Định, Hà Nam và Vĩnh Phúc có chung mức thu mua là 67.000 đồng/kg. Tại tỉnh Lào Cai, giá lợn hơi đang giao dịch ở mức giá 64.000 đồng/kg, đây cũng là mức giá thấp nhất khu vực ở thời điểm hiện tại. Giá lợn hơi tại miền Bắc dao động trong khoảng 64.000 – 68.000 đồng/kg.

Giá lợn hơi tại miền Trung, Tây Nguyên giảm 4.000 – 6.000 đồng/kg. Theo đó, một loạt địa phương (gồm Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Bình Định, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Ninh Thuận và Bình Thuận) giảm về khoảng 65.000 – 68.000 đồng/kg. Các địa phương: Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Đắk Lắk đang thu mua lợn hơi với giá là 68.000 đồng/kg. Riêng tại hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế giảm mạnh (giảm 6.000 đồng/kg) xuống còn 68.000 đồng/kg. Mức giá cao nhất khu vực là 69.000 đồng/kg, ghi nhận tại tỉnh Nghệ An. Giá lợn hơi tại miền Trung, Tây Nguyên dao động trong khoảng 65.000 – 69.000 đồng/kg.

Thị trường lợn hơi khu vực miền Nam đồng loạt giảm 4.000 đồng/kg ở nhiều địa phương. Sóc Trăng, Bình Phước, Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, An Giang, Hậu Giang, Cà Mau và Tiền Giang hiện đang giao dịch lợn hơi trong khoảng 67.000 – 68.000 đ/kg. Các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Long An, Cần Thơ, Kiên Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu và Trà Vinh điều chỉnh giảm về khoảng 67.000 – 69.000 đ/kg. Giá thu mua tại Đồng Nai giảm về ngưỡng 69.000 đ/kg. Trong khi đó, Vĩnh Long và Bến Tre giao dịch tại mốc 67.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại miền Nam dao động trong khoảng 67.000 – 69.000 đ/kg.

Giá các sản phẩm gia cầm bán tại trại biến động trái chiều tại các vùng miền trong tháng qua. Giá gà thịt lông màu ngắn ngày miền Bắc, miền Trung và miền Nam giảm 3.000 đồng/kg xuống mức 37.000 – 38.000 đ/kg. Giá gà công nghiệp miền Bắc tăng 7.000 đồng/kg lên 25.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Trung tăng 1.000 đồng/kg lên mức 23.000 đ/kg. Giá gà công nghiệp miền Đông và miền Tây Nam Bộ tăng 2.000 đ/kg lên 25.000 đ/kg. Giá trứng gà miền Bắc và miền Trung giữ ở mức 1.300 – 1.500 đ/quả. Giá trứng gà miền Đông Nam Bộ và miền Tây Nam Bộ tăng 200 – 250 đ/quả, hiện ở mức 1.250 – 1.400 đ/quả.

Tình hình xuất, nhập khẩu:

Thống kê mới nhất của Bộ NN&PTNT cho thấy, tính từ đầu năm đến hết tháng 5/2021, XK sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam đã đạt 166 triệu USD, tăng mạnh gần 44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa ước đạt 42 triệu USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2020.

Bên cạnh những mặt hàng chăn nuôi XK thường thấy như: Thịt lợn choai, lợn sữa, thịt gia cầm, trứng muối, mật ong, tổ yến, tơ tằm, sữa và các sản phẩm từ sữa… đáng chú ý thời gian gần đây Việt Nam còn đẩy mạnh XK cả sản phẩm lông vũ thu về trị giá đáng kể.

Ước giá trị nhập khẩu chăn nuôi tháng 5 năm 2021 đạt 340 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu chăn nuôi 5 tháng đầu năm 2021 đạt 1,52 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, giá trị nhập khẩu sữa và các sản phẩm sữa ước đạt 515,7 triệu USD, tăng 10,4%.

Xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu trong 5 tháng đầu năm 2021 tăng trưởng mạnh trên 55% so với 5 tháng đầu năm 2020, đạt 418,33 triệu USD; trong đó, riêng tháng 5/2021 đạt 117,09 triệu USD, tăng 16,7% so với tháng liền kề trước đó và tăng mạnh 95,4% so với cùng tháng năm 2020.

Thức ăn gia súc và nguyên liệu của Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Trung Quốc, tháng 5/2021 xuất khẩu sang thị trường này tăng 23,6% so với tháng 4/2021 và tăng mạnh 275% so với tháng 5/2020; tính chung cả 5 tháng đầu năm kim ngạch đạt 151,68 triệu USD, tăng mạnh 156,6% so với cùng kỳ năm 2020, chiếm 36,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.

Đứng thứ 2 về kim ngạch là thị trường Đông Nam Á; trong tháng 5/2021 xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu sang thị trường này tăng 15,9% so với tháng 4/2021 và tăng 38,7% so với tháng 5/2020, đạt 25,65 triệu USD; cộng chung cả 5 tháng đầu năm kim ngạch đạt 115,64 triệu USD, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm 2020, chiếm 27,6% trong tổng kim ngạch.

Trong khối các nước Đông Nam Á thì Campuchia chiếm thị phần lớn nhất 52,5%, đạt 60,66 triệu USD, tăng 38,6%; Malaysia chiếm 21,1%, đạt 24,44 triệu USD, giảm 18,9%; Philippines chiếm 9,7%, đạt 11,18 triệu USD, tăng 27,2%; Indonesia chiếm 7,2%, đạt 8,37 triệu USD, tăng 132,4%; Thái Lan chiếm 8,6%, đạt 9,9 triệu USD, tăng 42,9%.Đứng sau khối Đông Nam Á là thị trường Mỹ chiếm 10,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 44,67 triệu USD, tăng 24,6% với cùng kỳ năm 2020; trong đó riêng tháng 5/2021 đạt 10,91 triệu USD tăng 8,2% so với tháng 4/2021 và tăng 16,8% so với tháng 5/2020.

Xuất khẩu sang thị trường Ấn Độ mặc dù tháng 5/2021 giảm 6,7% so với tháng 4/2021, nhưng cộng chung cả 5 tháng thì vẫn tăng cao 27,4%, đạt 41,4 triệu USD, chiếm 9,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.

Xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 5 tháng đầu năm 2021

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 12/6/2021 của TCHQ)

ĐVT: USD

Xuất khẩu thức ăn gia súc 5 tháng đầu năm 2021 tăng trưởng tốt

Nguồn: VITIC

Nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu sau khi sụt giảm gần 17% trong tháng 4/2021 thì sang tháng 5/2021 tăng nhẹ 1,5% so với tháng 4/2021 và tăng 35,6% so với tháng 5/2020, đạt 445,09 triệu USD.

Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2021 kim ngạch nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh 47,4% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 2,09 tỷ USD.

Achentina luôn đứng đầu về thị trường cung cấp thức ăn gia súc và nguyên liệu cho Việt Nam, trong tháng 5/2021 nhập khẩu từ thị trường này tăng mạnh 41,5% so với tháng 4/2021 và tăng 55,6% so với tháng 5/2020, đạt 215,78 triệu USD. Cộng chung cả 5 tháng đầu năm 2021 kim ngạch tăng 28,7% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 756,48 triệu USD, chiếm 36,2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.

Nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu từ thị trường Mỹ – thị trường lớn thứ 2 trong tháng 5/2021 mặc dù chỉ tăng nhẹ 6,5% so với tháng 4/2021 và giảm 17,5% so với tháng 5/2020, đạt 49,64 triệu USD; nhưng cộng chung cả 5 tháng đầu năm thì nhâp khẩu từ thị trường này tăng rất mạnh 90,6% so với cùng kỳ, đạt 369,91 triệu USD, chiếm 17,7% trong tổng kim ngạch.

Nhập khẩu từ thị trường EU – thị trường lớn thứ 3 trong tháng 5/2021 cũng chỉ tăng nhẹ 1,2% so với tháng 4/2021 nhưng tăng mạnh 65,4% so với tháng 5/2020, đạt 34,83 triệu USD; cộng chung cả 5 tháng đầu năm cũng tăng mạnh 89,6% so với cùng kỳ, đạt 179,63 triệu USD, chiếm 8,6% trong tổng kim ngạch.

Đáng chú ý là nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu từ thị trường Ấn Độ sụt giảm mạnh 2 tháng liên tiếp; cụ thể: tháng 4/2021 giảm 67,3%, tháng 5 giảm tiếp 49,4% so với tháng 4/2021 nhưng tăng 15,8% so với tháng 5/2020, đạt 10,99 triệu USD; tuy nhiên, cộng chung cả 5 tháng đầu năm thì kim ngạch tăng rất mạnh 333,5% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 164,72 triệu USD, chiếm 7,9%, đứng thứ 4 về kim ngạch.

Nhìn chung, nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu từ tất cả các thị trường chủ đạo trong 5 tháng đầu năm nay đều tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm 2020.

Nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 5 tháng đầu năm 2021

(Tính toán theo s liu công b ngày 12/6/2021 ca TCHQ)

ĐVT: USD

Nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 5 tháng đầu năm 2021 tăng trên 47%

Nhập khẩu lúa mì:

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 5/2021 đạt 380 nghìn tấn với giá trị nhập khẩu đạt 110 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị lúa mì nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm 2021 đạt gần 2 triệu tấn và 545,9 triệu USD, tăng 34,3% về khối lượng và tăng 43,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2020.

Nguồn nhập khẩu lúa mì chính của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2021 là từ các thị trường: Ôxtrâylia (chiếm tỷ trọng 75,2%), Braxin (12,4%) và Hoa Kỳ (4%). So với cùng kỳ năm 2020, giá trị nhập khẩu lúa mì của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2021 từ Ôxtrâylia tăng 296,1%; Braxin (+3,2%) trong khi đó giá trị nhập khẩu lúa mì từ Hoa Kỳ giảm 46,4%.

Nhập khẩu đậu tương:

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 5/2021 đạt 250 nghìn tấn với giá trị 141,9 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị đậu tương nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2021 đạt 997,8 nghìn tấn và 552,7 triệu USD, tăng 21,1% về khối lượng và tăng 66,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2020.

Hoa Kỳ, Braxin và Canada là 3 thị trường cung cấp đậu tương chính cho Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2021 với 98,7% thị phần. So với cùng kỳ năm 2020, giá trị nhập khẩu đậu tương từ Hoa Kỳ tăng 101,9%, Braxin (+46,6%) và Canada (+12,5%).

Nhập khẩu ngô:

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 5/2021 đạt 1 triệu tấn với giá trị đạt 285,5 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị ngô nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm 2021 đạt 4,4 triệu tấn và 1,2 tỷ USD, tăng 37,7% về khối lượng và tăng 71% về giá trị so với cùng kỳ năm 2020.

Nguồn nhập khẩu ngô của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2021 chủ yếu từ 3 thị trường Braxin, Achentina và Ấn Độ, chiếm 79,9% thị phần. Giá trị nhập khẩu ngô 4 tháng đầu năm 2021 từ các thị trường này tăng lần lượt là: 145,7%, 11,8% và 601,8 lần.

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ