TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 7/2020

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo Bộ NN&PTNT, sang tháng 7, mặc dù Tây Nguyên và Nam Bộ đã bước vào mùa mưa, chăn nuôi vẫn tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn như: nắng nóng gay gắt và kéo dài tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung; hạn hán tại Nam Trung bộ, mưa lũ tại Hà Giang..; dịch tả lợn Châu Phi, mặc dù được kiểm soát nhưng tốc độ vào đàn vẫn chậm do giá con giống tăng cao; dịch Covid19 trên thế giới còn diễn biến phức tạp, đặc biệt ở những nước có quan hệ thương mại lớn với Việt Nam.

Nhìn chung, tháng 7 và 7 tháng sản xuất chăn nuôi tăng trưởng tương đối tốt, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được kiểm soát, đặc biệt là dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP), nhiều địa phương đã công bố hết dịch, người dân và doanh nghiệp đang đầu tư tái đàn, tuy nhiên, việc tái đàn chủ yếu diễn ra ở các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn, tại khu vực hộ chăn nuôi còn chậm.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tháng 7, đàn bò tăng khoảng 3,0% so với cùng kỳ năm 2019; đàn lợn ước giảm khoảng 3,0%; đàn gia cầm ước tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2019.

Các mặt hàng dầu mỡ động thực vật, lúa mì, ngô, đậu tương và chăn nuôi có giá trị NK tăng lần lượt là +11,6%, +24,8%, +11,6%, +23,0% và +11,2%.

Tình hình dịch bệnh

Theo báo cáo của Cục Thú y, tính đến ngày 24/7, cả nước không có dịch Tai xanh; có 01 ổ dịch CGC A/H5N6 tại tỉnh Tiền Giang; 05 ổ dịch LMLM típ O tại Quảng Trị, Nghệ An và Kon Tum; có 188 xã thuộc 58 huyện của 18 tỉnh, thành phố có bệnh DTLCP chưa qua 21 ngày.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU 

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 7/2020 đạt 317 triệu USD, giảm 27,8% so với tháng trước đó và giảm 0,26% so với cùng tháng năm ngoái.

Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 7/2020 vẫn là Argentina, Brazil, Mỹ và Trung Quốc… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 130 triệu USD, giảm 4,28% so với tháng trước đó và giảm 13,26% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL 7 tháng đầu năm 2020 lên 864 triệu USD, tăng 1,39% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 41,2% thị phần.

Kế đến là thị trường Brazil với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 7/2020 đạt hơn 43 triệu USD, giảm 52,81% so với tháng 6/2020 song tăng mạnh 219,94% so với tháng 7/2019. Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2020, Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 205 triệu USD, tăng 44,84% so với cùng kỳ năm 2019, chiếm 13,8% thị phần.

Đứng thứ ba là Mỹ với kim ngạch nhập khẩu hơn 36 triệu USD, giảm 6,51% so với tháng 6/2020 và giảm 2,46% so với tháng 7/2019, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này lên 269 triệu USD, giảm 25,62% so với cùng kỳ năm 2019, chiếm 11,5% thị phần.

Tính chung, trong 7 tháng đầu năm 2020 Việt Nam đã chi hơn 2,1 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, giảm nhẹ 1,32% so với cùng kỳ năm 2019. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh trong thời gian này là: Singapore với 15 triệu USD, tăng 58,41% so với cùng kỳ năm 2019, Mexico với 2,3 triệu USD, tăng 50,1% so với cùng kỳ năm 2019, Anh với hơn 1 triệu USD tăng 45,48% so với cùng kỳ năm 2019, sau cùng là Brazil với hơn 205 triệu USD, tăng 44,84% so với cùng kỳ.

Nhập khẩu TĂCN & NL tháng 7/2020 theo thị trường

(Vinanet tính toán từ số liệu công bố ngày 12/8/2020 của TCHQ)

ĐVT: nghìn USD

Thị trường T7/2020 So với T6/2020 (%) 7T/2020 So với 7T/2019 (%)
Tổng KN 317.497 -27,8 2.182.347 -1,3
Argentina 130.936 -4,3 864.179 1,4
Ấn Độ 9.299 -81,7 98.026 -13,1
Anh 294 51,2 1.000 45,5
Áo 330 -19,8 1.785 -19,9
Bỉ 1.114 -9,2 6.496 17,8
Brazil 43.896 -52,8 205.584 44,8
UAE 1.040 -61,1 21.586 42,8
Canada 470 -60,6 8.385 -73,7
Chile 205 -34,4 6.610 5,7
Đài Loan (TQ) 10.419 10,9 55.754 24,4
Đức 466 -66,3 6.343 5,7
Hà Lan 1.972 -1 10.025 6,7
Hàn Quốc 2.074 -57,5 26.733 -9,7
Mỹ 36.413 -6,5 269.626 -25,6
Indonesia 8.897 19,4 47.971 8,7
Italia 1.570 -52,6 15.159 -47,5
Malaysia 3.259 -9,4 24.286 38,7
Mexico 300 -27,2 2.380 50,1
Nhật Bản 310 251,4 1.663 24,7
Australia 1.229 -22,2 9.543 -54,7
Pháp 1.970 -1,1 13.890 -26,4
Philippin 133 -90,9 9.064 -19,9
Singapore 1.598 -28,2 15.829 58,4
Tây Ban Nha 849 -8,9 5.461 -15,2
Thái Lan 7.818 -53,8 89.619 22,8
Trung Quốc 12.672 -14,6 107.808 -3,1

Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật tháng 7/2020.

Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 7 tháng đầu năm 2020

Mặt hàng 7T/2020 So với 7T/2019
Lượng (nghìn tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (%) Trị giá (%)
Lúa mì 1.905 493.939 33,1 23,5
Ngô 5.858 1.220.479 9,8 10
Đậu tương 1.218 484.935 21,7 22,6
Dầu mỡ động thực vật   441.518   12,6

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Lúa mì: 

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 7/2020 đạt 184 nghìn tấn với kim ngạch đạt 49 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 7 tháng đầu năm 2020 lên hơn 1.905 nghìn tấn, với trị giá hơn 493 triệu USD, tăng 33,08% về khối lượng và tăng 23,45% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019.

Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 7 tháng đầu năm 2020 là Australia chiếm 29% thị phần; Nga chiếm 22%; Canada chiếm 12%; Mỹ chiếm 12% và Brazil chiếm 12%.

Hầu hết các thị trường nhập khẩu lúa mì đều tăng mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2019 là Mỹ, Brazil, Nga và Canada, trong khi thị trường Canada giảm 27,43% về lượng và giảm 30,18% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái và Australia giảm 2,19% về lượng và giảm 7,85% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Trong 7 tháng đầu năm 2020, nhập khẩu lúa mì Mỹ tăng 232,48% về lượng và 236,49% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Đồng thời, nhập khẩu lúa mì Brazil tăng 176,01% về lượng và 149,45% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Đậu tương: 

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 7/2020 đạt 208 nghìn tấn với trị giá hơn 80 triệu USD, đưa khối lượng và kim ngạch nhập khẩu đậu tương trong 7 tháng đầu năm 2020 lên 1.218 nghìn tấn và 4843 triệu USD, tăng 21,66% về lượng và tăng 22,64% về trị giá so với năm 2019.

Ngô: 

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 7/2020 đạt hơn 1,4 triệu tấn với trị giá đạt 292 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 7 tháng đầu năm 2020 lên hơn 5,8 triệu tấn, trị giá hơn 1,2 tỉ USD, tăng 9,8% về khối lượng và tăng 10,01% về trị giá so với năm 2019.

Tuy nhiên, nhập khẩu ngô trong 7 tháng đầu năm 2020 từ các thị trường chủ yếu đều giảm mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2019. Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 70,2% và 11,8% thị phần.

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ