TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 9/2020

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo Bộ NN&PTNT, tình hình chăn nuôi trên cả nước 9 tháng phát triển khá tốt; dịch bệnh trên gia súc, gia cầm cơ bản được kiểm soát. Dù tốc độ tái đàn chưa đạt được theo kỳ vọng (mới tập trung nhiều ở các cơ sở chăn nuôi lớn) nhưng sản lượng thịt quý III vượt sản lượng quý I và II nên tốc độ tăng GTSX Quý III đạt +9,67%, cao nhất so Quý I, II và là lĩnh vực đạt tốc độ tăng GTSX cao nhất. Lũy kế 9 tháng GTSX lĩnh vực chăn nuôi tăng 3,76%. Tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 34 triệu USD (tăng 17,2%).

Tổng đàn trâu cả nước giảm khoảng 2,2% so với cùng kỳ năm 2019, sản lượng thịt trâu ước đạt 69,0 nghìn tấn, tăng 1,8% (quý III ước đạt 20,0 nghìn tấn, tăng 3,5%).

Đàn bò tăng 2,5%, sản lượng thịt 272,6 nghìn tấn, tăng 5,7% (quý III ước đạt 85,1 nghìn tấn, tăng 9,6%); sản lượng sữa bò tươi 9 tháng ước đạt 799,2 nghìn tấn, tăng 9,9% (quý III ước đạt 277,1 nghìn tấn, tăng 13,6%).
Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển mạnh, đàn gia cầm tăng 5,7%, sản lượng thịt hơi đạt 1.056,7 nghìn tấn, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2019 (quý III ước đạt 348,6 nghìn tấn, tăng 7,7%); sản lượng trứng gia cầm 9 tháng ước đạt 10,7 tỷ quả, tăng 10,8% (quý III ước đạt 3,5 tỷ quả, tăng 9,6%).
Đàn lợn cả nước đang dần được khôi phục, tuy nhiên việc tái đàn tại các địa phương nhìn chung vẫn còn chậm so với kỳ vọng. Tổng số lợn tăng khoảng 3,6% so với cùng thời điểm năm 2019; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 9 tháng ước đạt 2.483,1 nghìn tấn, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm 2019 (riêng quý III ước đạt 846,2 nghìn tấn, tăng 9,7%).

Tình hình dịch bệnh

Theo báo cáo của Cục Thú y, tính đến ngày 23/9, cả nước không có dịch tai xanh; có 06 ổ dịch cúm gia cầm tại Quảng Ngãi, TP. Hải Phòng, Nghệ An, Vĩnh Long và Cà Mau; 09 ổ dịch Lở mồm long móng chưa qua 21 ngày còn ở Đắk Lắk, Quảng Trị, Kon Tum, Cao Bằng và Đồng Nai và bệnh Dịch tả lợn châu Phi tái phát tại 110 xã của 22 tỉnh.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU 

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 9/2020 đạt 348 triệu USD, giảm 13,47% so với tháng trước đó song tăng 35,36% so với cùng tháng năm ngoái.

Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 9/2020 vẫn là Argentina, Mỹ, Brazil và Trung Quốc… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 160 triệu USD, giảm 13,48% so với tháng trước đó song tăng 34,86% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL 9 tháng đầu năm 2020 lên hơn 1,2 tỉ USD, tăng 6,03% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 41,3% thị phần.

Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 9/2020 đạt hơn 43 triệu USD, giảm 28,26% so với tháng 8/2020 song tăng mạnh 30,59% so với tháng 9/2019. Tính chung trong 9 tháng đầu năm 2020, Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 372 triệu USD, giảm 20,82% so với cùng kỳ năm 2019, chiếm 12,7% thị phần.

Đứng thứ ba là Brazil với kim ngạch nhập khẩu đạt hơn 32 triệu USD, giảm 26,32% so với tháng 8/2020 song tăng 316,32% so với tháng 9/2019, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này lên 282 triệu USD, tăng 72,79% so với cùng kỳ năm 2019, chiếm 9,6% thị phần.

Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2020 Việt Nam đã chi hơn 2,9 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 3,24% so với cùng kỳ năm 2019. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh trong thời gian này là: Chile với 11,8 triệu USD, tăng 84,94% so với cùng kỳ năm 2019, Mexico với 3 triệu USD, tăng 73,59% so với cùng kỳ năm 2019, Brazil với hơn 282 triệu USD, tăng 72,79% so với cùng kỳ, sau cùng là Singapore với hơn 19 triệu USD tăng 46,54% so với cùng kỳ năm 2019.

Nhập khẩu TĂCN & NL tháng 9/2020 theo thị trường

(Vinanet tính toán từ số liệu công bố ngày 12/10/2020 của TCHQ)

ĐVT: nghìn USD

Thị trường T9/2020 So với T8/2020 (%) 9T/2020 So với 9T/2019 (%)
Tổng KN 348.186 -13,5 2.932.480 3,2
Argentina 160.663 -13,5 1.210.425 6,0
Ấn Độ 5.298 -35,1 111.524 -14,2
Anh 129 50,9 1.215 27,7
Áo 155 76,9 2.028 -15,4
Bỉ 736 -41,3 8.513 37,7
Brazil 32.851 -26,3 282.824 72,8
UAE 222 -62,3 22.398 41,8
Canada 1.085 -11,1 10.661 -73
Chile 4.528 510,9 11.880 84,9
Đài Loan (TQ) 7.784 10,5 70.583 22,3
Đức 776 -1,9 7.912 -2,3
Hà Lan 1.425 -20,6 13.247 16,5
Hàn Quốc 2.789 -3,1 32.401 -12,0
Mỹ 43.098 -28,3 372.771 -20,8
Indonesia 7.703 20,3 62.175 -2,4
Italia 929 -6,2 17.079 -52,1
Malaysia 3.302 164 28.840 22,4
Mexico 309 -34,2 3.159 73,6
Nhật Bản 55 -80,5 2.001 33,5
Australia 562 -0,5 10.670 -52,9
Pháp 1.418 -5,1 16.835 -26,5
Philippin 2.424 896,9 11.732 -18,2
Singapore 2.217 33,6 19.707 46,5
Tây Ban Nha 748 141,6 6.520 -17,3
Thái Lan 6.861 -44,69 108.866 24,6
Trung Quốc 17.120 24,6 138.644 -0,2

Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật tháng 9/2020.

Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 9 tháng đầu năm 2020

Mặt hàng 9T/2020 So với 9T/2019
Lượng (nghìn tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (%) Trị giá (%)
Lúa mì 2.190 565.622 14,3 9,5
Ngô 8.526 1.719.874 6,6 5,6
Đậu tương 1.439 573.468 12 12,5
Dầu mỡ động thực vật   618.291   23,3

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Lúa mì: Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 9/2020 đạt 346 nghìn tấn với kim ngạch đạt 86 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 9 tháng đầu năm 2020 lên hơn 2.190 nghìn tấn, với trị giá hơn 565 triệu USD, tăng 14,27% về khối lượng và tăng 9,48% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019.

Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 9 tháng đầu năm 2020 là Australia chiếm 27% thị phần; Mỹ chiếm 20%; Nga chiếm 17%; Canada chiếm 12% và Brazil chiếm 10%.

Thị trường nhập khẩu lúa mì đều tăng mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2019 là Mỹ và Brazil, trong khi thị trường Canada giảm 19,99% về lượng và giảm 22,95% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái; Australia giảm 22,96% về lượng và giảm 25,22% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái; Nga giảm 14,55% về lượng và giảm 10,95% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Trong 9 tháng đầu năm 2020, nhập khẩu lúa mì Mỹ tăng 317,78% về lượng và 312,22% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Đồng thời, nhập khẩu lúa mì Brazil tăng 176,01% về lượng và 149,45% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Đậu tương: Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 9/2020 đạt 110 nghìn tấn với trị giá hơn 44 triệu USD, đưa khối lượng và kim ngạch nhập khẩu đậu tương trong 9 tháng đầu năm 2020 lên 1.439 nghìn tấn và 573 triệu USD, tăng 12% về lượng và tăng 12,51% về trị giá so với năm 2019.

Ngô: Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 9/2020 đạt hơn 1,4 triệu tấn với trị giá đạt 265 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 9 tháng đầu năm 2020 lên hơn 8,5 triệu tấn, trị giá hơn 1,7 tỉ USD, tăng 6,56% về khối lượng và tăng 5,55% về trị giá so với năm 2019.

Tuy nhiên, nhập khẩu ngô trong 9 tháng đầu năm 2020 từ các thị trường chủ yếu đều giảm mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2019. Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 70% và 16,6% thị phần.

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

Channuoivietnam.com © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email: dohuuphuong2010@gmail.com - ĐT: 0908.255.265 Trang chủ